LƯU Ý ĐẶC BIỆT VÀ THẬN TRỌNG KHI SỬ DỤNG:
– Không có nhiều kinh nghiệm sử dụng danazol lâu dài. Điều trị lâu dài với các steroid khác được alkyl hóa ở vị trí 17 gây ra những độc tính trầm trọng (vàng da ứ mật, viêm gan…). Vì thế, thầy thuốc nên cảnh giác về khả năng có độc tính tương tự khi điều trị lâu dài với danazol. Ở bệnh nhân bị phù mạch do di truyền, nên thử nghiệm để xác định liều dùng thấp nhất có tác dụng bảo vệ. Nếu bắt đầu dùng thuốc ở thời gian bạo phát phù thần kinh mạch do chấn thương, stress hoặc các nguyên nhân khác, nên cân nhắc tạm thời giảm liều hoặc ngưng điều trị định kỳ.
– Đã có báo cáo về tăng cholesterol toàn phần trong huyết tương kèm với giảm đáng kể lipo-protetin cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) ở phụ nữ dùng với danazol. Vì có nguy cơ tăng bệnh động mạch vành tim cùng với sự giảm HDL-C, nên cẩn thận khi dùng danazol lâu dài, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã có nguy cơ.
– Do đã có báo cáo về rối loạn chức năng gan ở bệnh nhân điều trị bằng danazol, nên thực hiện xét nghiệm định kỳ chức năng gan.
– Nên theo dõi bệnh nhân sát sao về dấu hiệu nam tính hóa. Vài tác dụng androgen không có tính thuận nghịch khi ngưng thuốc.
– Bệnh nhân dùng danazol có biểu hiện giảm dung nạp glucose. Ý nghĩa của sự sai lệch này đối với bệnh nhân tiểu đường dùng danazol thì chưa được biết, nhưng những bệnh nhân này phải được theo dõi cẩn thận.
– Sử dụng trong thai kỳ: Về lâm sàng, chưa xác định tính an toàn khi sử dụng danazol trong thai kỳ. Vì thế, nên loại trừ khả năng có thai trước khi bắt đầu điều trị và nên bắt đầu điều trị khi có kinh. Nên dùng biện pháp ngừa thai không dùng hormon. Nếu một bệnh nhân có thai trong khi đang điều trị, nên ngưng dùng danazol. Nếu bệnh nhân nghi ngờ mình có thai, có thể ngưng dùng danazol và tham khảo ý kiến thầy thuốc. Điều trị tiếp tục có thể gây ra tác dụng nam hóa trên thai nhi. Ngày nay, đã giới hạn sử dụng do gây ra phì đại âm vật và dính liền môi của cơ quan sinh dục ngoài ở thai nhi gái. Nếu bệnh nhân có thai khi đang dùng danazol, nên thông báo cho bệnh nhân về nguy cơ đối với thai nhi.
– Sử dụng khi nuôi con bằng sữa mẹ: Danazol không được biết là có tiết vào sữa hoặc có tác hại trên trẻ sơ sinh hay không. Vì thế không nên dùng cho phụ nữ cho con bú.
– Giữ nước: Có thể ở mức độ phải nghĩ đến việc dùng thuốc lợi tiểu. Tuy nhiên, ở vài trường hợp có thể kiểm soát sự giữ nước bằng cách giới hạn lượng muối ăn. Cần phải theo dõi cẩn thận những bệnh nhân có các bệnh mà bị ảnh hưởng của sự giữ nước như động kinh, nhức đầu migrain, rối loạn chức năng gan hay thận.
– Tác dụng đồng hóa/ androgen: Có thể thấy ở các bệnh nhân nữ như là trứng cá, da nhờn, giảm kích thước vú, viêm âm đạo, phì đại âm vật, nóng bừng mặt, chứng rậm lông ở đàn ông, tiếng nói trầm xuống và tăng trọng (đến 6,5 kg). Teo tinh hoàn hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân nam. Nên kiểm tra số lượng và chất lượng tinh trùng thường xuyên, đặc biệt là thanh niên.
– Thuốc ngừa thai uống: Mặc dù không có tương tác đặc biệt nào được ghi nhận, nhưng không nên dùng thuốc ngừa thai cùng lúc với danazol.
– Các hướng dẫn cho bệnh nhân nữ: Báo cho bệnh nhân biết là sự rụng trứng và chu kỳ kinh nguyệt có thể ngưng. Bệnh nhân nên được cho biết là sự sử dụng danazol trong thai kỳ có thể làm hại bào thai.
Để xa tầm tay trẻ em.