Thuốc Asoct

0
49
Asoct

AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Asoct công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Asoct điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Asoct ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

Asoct

Asoct
Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
Dạng bào chế:Dung dịch tiêm
Đóng gói:Hộp 5 ống x 1ml

Thành phần:

Octreotide (dưới dạng octreotid acetate) 0,1mg/ml
SĐK:VN-19604-16
Nhà sản xuất: GP-Pharm, S.A. – TÂY BAN NHA
Nhà đăng ký: Công ty TNHH Dược phẩm Liên Hợp
Nhà phân phối:

Chỉ định:

– Kiềm chế các triệu chứng và giảm tiết hormone tăng trưởng và somatomedin-C trong huyết tương ở những bệnh nhân to viễn cực không đáp ứng với điều trị phẫu thuật, xạ trị hoặc dopamine chủ vận ; những bệnh nhân không có khả năng hay không muốn phẫu thuật ; hoặc trong giai đoạn có tác dụng tiềm tàng trước khi xạ trị đạt được tác dụng hoàn toàn.
– Làm giảm các triệu chứng do khối u thuộc hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP) :
Các loại khối u đã có nhiều bằng chứng về hiệu quả của thuốc :
– U carcinoid với các đặc điểm của hội chứng carcinoid.
– VIPoma.
– Glucagonoma.
Các loại khối u cho thấy thuốc có tác dụng trong khoảng 50% trường hợp (hiện với số lượng bệnh nhân hạn chế). Trong các trường hợp này, tác dụng của Octreotidee giới hạn trong việc làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng, không phải là thuốc đặc trị :
– Gastrinomas/hội chứng Zollinger-Ellison (thường kết hợp với điều trị thuốc kháng H2 chọn lọc có kèm hoặc không với thuốc kháng acid).
– U đảo tụy (insulinoma, trong việc kiềm chế hạ glucose huyết trước khi phẫu thuật và trong điều trị duy trì).
– GRFoma.
– Phòng ngừa các biến chứng sau phẫu thuật tụy.
– Điều trị cấp cứu xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch dạ dày – thực quản do xơ gan dùng kết hợp với điều trị đặc hiệu như làm xơ qua nội soi.
Kiểm soát tiêu chảy tái phát đi kèm với bệnh AIDS.
Dược lực
Octreotide là chất octapeptide tổng hợp có tác dụng dược lý tương tự như somatostatin tự nhiên, nhưng có thời gian tác dụng dài hơn đáng kể. Thuốc ức chế sự bài tiết các peptide của hệ nội tiết dạ dày – ruột – tụy (GEP : gastroenteropancreatic) và hormone tăng trưởng (GH).
Ở động vật, octreotide có tác dụng ức chế hormone tăng trưởng, ức chế sự giải phóng glucagon và insulin mạnh hơn somatostatin, cũng như có tác dụng chọn lọc hơn trong việc ức chế GH và glucagon. Dùng thuốc trong thời gian dài (26 tuần) với liều lên tới 1 mg/kg/ngày (tiêm màng bụng) đối với chuột và tới 0,5 mg/kg/ngày (đường tĩnh mạch) ở chó cho thấy dung nạp tốt.
Ở người tình nguyện khỏe mạnh, Octreotide cho thấy các tác dụng ức chế đối với :
– Sự giải phóng hormone tăng trưởng (GH) kích thích bởi arginine, giảm đường huyết do hoạt động thể dục hoặc do insulin.
– Sự giải phóng insulin, glucagon, gastrin, các peptide khác thuộc hệ GEP sau bữa ăn và sự giải phóng insulin và glucagon kích hoạt bởi arginine.
– Sự giải phóng kích giáp tố (TSH: thyroid stimulating hormone) trong đáp ứng với TRH (thyrotropine-releasing hormone).
Ở bệnh nhân to viễn cực, bao gồm cả những người không đáp ứng với điều trị phẫu thuật, tia xạ hay dùng chủ vận dopamine, Octreotide làm giảm nồng độ hormone tăng trưởng và/hoặc somatomedin-C. Việc giảm đáng kể lượng GH trên lâm sàng (50% hoặc hơn) diễn ra trên hầu hết bệnh nhân, và sự bình thường hóa (lượng GH trong máu < 5 ng/ml) đạt được với khoảng 50% trường hợp. Trên hầu hết bệnh nhân, có sự giảm đáng kể các triệu chứng lâm sàng của bệnh, ví dụ như đau đầu, sưng nề da và các mô mềm, tăng tiết mồ hôi, đau khớp và dị cảm. Ở những bệnh nhân có khối u tuyến yên lớn, điều trị Octreotidee có thể làm khối u nhỏ lại. 
Với những bệnh nhân có khối u thuộc hệ nội tiết dạ dày – ruột – tụy (GEP), Octreotide, do tác dụng nhiều mặt về nội tiết, làm thay đổi nhiều bệnh cảnh lâm sàng. Do vậy các bệnh nhân với các triệu chứng nặng do khối u mặc dù trước đó đã được điều trị bằng phẫu thuật, làm tắc động mạch gan, hóa trị liệu (như streptozotocin và 5-fluorouracil) v.v… có thể cho thấy sự cải thiện đáng kể về lâm sàng.

Các tác dụng của Octreotide được liệt kê dưới đây :
Hội chứng carcinoid :
Đặc biệt các triệu chứng đỏ bừng và ỉa chảy có thể cho thấy tình trạng cải thiện, trong một số trường hợp tác dụng này đi kèm với sự giảm lượng serotonin trong huyết tương và sự giảm bài tiết 5-hydroxyindole acetic acid qua nước tiểu. Nếu không thấy có đáp ứng khi điều trị với Octreotide, không nên tiếp tục điều trị kéo dài hơn một tuần. 
Hội chứng VIPoma :
Được gọi như vậy là do đặc tính sinh hóa chủ yếu của nó là sự sản xuất quá mức các hormone peptide ruột vận mạch (vasoactive intestinal peptide – VIP), hội chứng VIPoma được đặc trưng trên lâm sàng bởi ỉa chảy nặng do tăng xuất tiết. Tình trạng này thuyên giảm trong hầu hết các trường hợp điều trị với Octreotide, nhờ vậy cải thiện được chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Tình trạng mất dịch và điện giải kèm theo (ví dụ hạ kali máu) được giảm bớt, cho phép ngừng bồi phụ nước và điện giải qua đường tiêu hóa hoặc ngoài đường tiêu hóa. Ở một số bệnh nhân, chụp cắt lớp điện toán gợi tới sự làm chậm lại hay ngừng phát triển của khối u, hoặc thậm chí thu nhỏ lại, đặc biệt trong trường hợp di căn gan. Cải thiện lâm sàng thường đi cùng với sự giảm hoặc thậm chí trở về bình thường của nồng độ VIP trong huyết tương.

Glucagonomas (u tế bào alpha tiểu đảo tụy) :
Trong hầu hết các trường hợp có sự cải thiện đáng kể tình trạng ban da hoại tử di trú là dấu hiệu đặc trưng của bệnh lý này. Octreotidee ít có tác dụng tới tình trạng tiểu đường nhẹ là dấu hiệu dễ mắc ở nhóm bệnh nhân này, và nói chung không phải giảm liều dùng insulin hay các thuốc uống hạ đường huyết. Octreotide tạo được sự thuyên giảm cho bệnh nhân bị ỉa chảy và làm tăng cân. Trong nhiều trường hợp có hiện tượng giảm ngay lượng glucagon trong huyết tương nhưng quá trình này không kéo dài ; tình trạng lâm sàng do vậy vẫn tiếp tục được cải thiện.

Gastrinoma/hội chứng Zolinger-Ellison :
Loét dạ dày tái diễn do tăng tiết acid dạ dày mãn tính do kích thích tăng tiết gastrin thường không phải lúc nào cũng đáp ứng với các thuốc phong bế chọn lọc thụ thể H2 và các antacid, trong khi tình trạng ỉa chảy, có thể là dấu hiệu nổi trội, ít được giảm bớt.
Trong các trường hợp đó, điều trị Octreotide – có thể kết hợp với một thuốc đối kháng thụ thể H2 – có thể làm giảm sự tăng tiết quá mức dịch vị và làm giảm các triệu chứng lâm sàng (bao gồm cả ỉa chảy) trong tới 50% các trường hợp. Các biểu hiện khác có thể gặp do khối u làm tăng sinh peptide (như nóng bừng) cũng có thể có đáp ứng. Ở một số bệnh nhân có sự giảm lượng gastrin trong huyết tương.
U đảo tụy :
Có hiện tượng giảm lượng insulin đáp ứng miễn dịch lưu thông, nhưng thường không kéo dài (khoảng 2 giờ). Ở những bệnh nhân có khả năng phẫu thuật, có thể dùng Octreotide trước mổ nhằm đạt được và duy trì mức đường huyết bình thường. Đối với những bệnh nhân có khối u lành hoặc ác tính không có khả năng phẫu thuật, việc kiểm soát đường huyết có thể được cải thiện không kèm theo hiện tượng giảm insulin lưu thông.
GRFomas :
Đây là loại khối u hiếm gặp tiết ra yếu tố giải phóng hormone tăng trưởng (GRF : growth hormone releasing factor) riêng rẽ hay kết hợp với các peptide hoạt động khác, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh to viễn cực. Trong một nửa số trường hợp được nghiên cứu cho tới nay, Octreotide có tác dụng cải thiện các biểu hiện lâm sàng, có khả năng là do sự ức chế bài tiết yếu tố GRF và hormone tăng trưởng, và kèm theo đó có thể có sự giảm bớt kích cỡ tuyến yên.
Ngăn ngừa các biến chứng sau phẫu thuật tụy:
Ở những bệnh nhân phẫu thuật tụy, dùng Octreotide trước và sau mổ làm giảm sự xuất hiện các biến chứng đặc thù (như dò tụy, áp-xe sau đó gây nhiễm khuẩn, viêm tụy cấp sau mổ).
Ở bệnh nhân xuất huyết dạ dày – thực quản do giãn vỡ tĩnh mạch:
Các kết quả nghiên cứu cho thấy dùng Octreotide kết hợp với điều trị làm xơ trong điều trị xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch dạ dày -thực quản thứ phát do xơ gan tạo ra kết quả tốt hơn trong tác dụng kiềm chế chảy máu và chảy máu tái phát sớm, làm giảm nhu cầu bù dịch và làm tăng tỷ lệ sống còn trong 5 ngày đầu. Trong khi cơ chế tác dụng cụ thể của Octreotide chưa đươơc hiểu rõ hoàn toàn, người ta cho rằng Octreotide làm giảm lượng máu lưu thông nội tạng nhờ ức chế các hormone hoạt mạch như VIP và glucagon.
Dược động học
Sau khi tiêm dưới da, Octreotide được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 30 phút. Quá trình đào thải thuốc sau khi tiêm dưới da có thời gian bán hủy là 100 phút. Sau khi tiêm tĩnh mạch, thuốc được thải trừ qua 2 pha với thời gian bán hủy theo thứ tự là 10 phút và 90 phút. Lượng thuốc được phân phối là 0,27 l/kg và hệ số thanh thải toàn bộ là 160 ml/phút. Tỉ lệ gắn với protein huyết tương lên tới 65%. Lượng Octreotide gắn với tế bào máu là không đáng kể.

Dược động học ở bệnh nhân suy gan :
Xơ gan, nhưng không phải là gan nhiễm mỡ, đi kèm với hiện tượng giảm thải trừ octreotide 30%.

Liều lượng – Cách dùng

Bệnh to viễn cực :
Liều ban đầu 0,05-0,1 mg tiêm dưới da mỗi 8 giờ, sau đó điều chỉnh liều tùy theo đánh giá về lượng GH hàng tháng và các triệu chứng lâm sàng, và khả năng dung nạp thuốc. Đối với hầu hết bệnh nhân, liều dùng hàng ngày tốt nhất là 0,2-0,3 mg. Không nên dùng quá liều 1,5 mg/ngày.
Có thể giảm liều sau vài tháng điều trị kết hợp với theo dõi nồng độ GH trong huyết tương.
Nếu lượng GH không giảm và các triệu chứng lâm sàng không được cải thiện sau một tháng điều trị, cần nghĩ tới việc ngừng điều trị.
Khối u thuộc hệ nội tiết đường dạ dày – ruột – tụy :
Liều dùng ban đầu 0,05 mg, 1-2 lần/ngày, tiêm dưới da, tăng dần liều tới 0,2 mg, 3 lần/ngày tùy theo tình trạng dung nạp và đáp ứng với điều trị (đáp ứng lâm sàng, nồng độ của các hormone do khối u tiết ra). Có thể cần dùng liều cao hơn trong một số trường hợp. Liều duy trì cần được điều chỉnh tùy theo từng trường hợp.
Các biến chứng sau phẫu thuật tụy :
0,1 mg x 3 lần hàng ngày tiêm dưới da trong 7 ngày liên tiếp, bắt đầu vào ngày trước phẫu thuật ít nhất 1 giờ trước mổ.
Xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản :
0,025 mg/giờ truyền tĩnh mạch liên tục tối đa 5 ngày. Octreotide có thể được pha loãng với nước muối sinh lý (xem Hướng dẫn sử dụng).
Hiện chưa có chứng cứ về khả năng dung nạp bị giảm hay cần thay đổi liều dùng ở người già được điều trị với Octreotide.
Kinh nghiệm điều trị Octreotidee ở trẻ em còn rất hạn chế.
Lưu ý : Bệnh nhân tự tiêm thuốc dưới da phải được bác sỹ hay y tá hướng dẫn cụ thể. Để giảm các phản ứng tại chỗ cho bệnh nhân, dịch thuốc cần đạt tới nhiệt độ phòng trước khi tiêm. Trường hợp tiêm nhiều lần cách nhau trong thời gian ngắn, cần tránh tiêm ở cùng một vị trí. Để tránh nhiễm bẩn, không chích qua nắp lọ nhiều quá 10 lần (lọ chứa nhiều liều).
Ở bệnh nhân suy gan xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch dạ dày-thực quản, Octreotide được dung nạp tốt với liều 0,05 mg/giờ truyền tĩnh mạch liên tục trong 5 ngày.
Hướng dẫn sử dụng :
Trong các trường hợp dùng Octreotide truyền tĩnh mạch, một ống 0,5 mg thường được hòa tan trong 60 ml dung dịch nước muối sinh lý. Nhằm đạt được liều dùng được đề nghị là 0,025 mg/giờ, dung dịch pha loãng cần được truyền trong 20 giờ với một bơm truyền.
Trị liệu này cần được lặp lại thường xuyên nếu cần thiết cho tới khi đạt được thời gian điều trị theo chỉ định. Octreotide đã được truyền với độ đặc thấp hơn và với dung dịch glucose.
Dung dịch truyền bền vững trong 24 giờ sau khi được pha.
Quá liều
Hiện chưa có báo cáo nào về phản ứng phụ nguy hiểm đến tính mạng sau khi dùng quá liều cấp được ghi nhận. Liều đơn trị cao nhất cho tới nay cho một bệnh nhân người lớn là 1 mg tiêm tĩnh mạch chậm. Các dấu hiệu và triệu chứng quan sát được là giảm nhịp tim, đỏ bừng mặt, đau bụng, ỉa chảy, cảm giác trống rỗng trong dạ dày và buồn nôn, tất cả các biểu hiện này hồi phục trong vòng 24 giờ.
Một bệnh nhân được báo cáo đã tình cờ dùng thuốc Octreotide quá liều do truyền liên tiếp (0,25 mg/giờ trong 48 giờ thay vì 0,025 mg/giờ). Bệnh nhân này không biểu hiện tác dụng phụ.
Xử trí quá liều chỉ gồm điều trị triệu chứng.

Chống chỉ định:

Quá mẫn với một trong các thành phần của thuốc.

Tương tác thuốc:

Octreotide làm giảm hấp thu ciclosporin đường tiêu hóa và làm hấp thu chậm cimetidine.

Tác dụng phụ:

Các tác dụng phụ chính gặp phải khi điều trị Octreotide thường là ở tại chỗ và đường tiêu hóa.

Phản ứng tại chỗ sau khi dùng thuốc qua đường dưới da bao gồm đau hay cảm giác nhức, cảm giác nhói hay nóng tại chỗ tiêm, sưng và đỏ. Các dấu hiệu này thường ít khi kéo dài quá 15 phút và có thể làm giảm nhẹ bằng cách để dịch thuốc lên tới nhiệt độ trong phòng trước khi tiêm hay tiêm với liều lượng nhỏ hơn với dịch thuốc đặc hơn.

Các tác dụng ở đường tiêu hóa bao gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, chướng bụng, đầy hơi, phân lỏng, ỉa chảy và đi ngoài phân mỡ.

Dù lượng mỡ đào thải qua phân có thể tăng, hiện chưa thấy có bằng chứng về việc điều trị lâu dài với Octreotide có thể dẫn tới suy dinh dưỡng do giảm hấp thu. Trong một số ít trường hợp có thể có các triệu chứng giống tắc ruột cấp như đau nặng vùng thượng vị và nhạy cảm đau khi ấn, chướng và nề bụng. Có thể làm giảm các tác dụng phụ nhờ tránh ăn ở quanh thời điểm dùng thuốc, tiêm thuốc ở khoảng giữa các bữa ăn hay khi đi ngủ.

Điều trị lâu dài Octreotide có thể tạo nên sỏi mật (xem Thận trọng lúc dùng).

Do tác dụng kiềm chế sự giải phóng hormone tăng trưởng, glucagon và insulin, Octreotide có thể làm ảnh hưởng đến sự điều hòa glucose. Dung nạp glucose sau khi ăn có thể bị ảnh hưởng và dẫn tới làm tăng đường huyết thường xuyên ở một vài bệnh nhân dùng thuốc trong thời gian dài.

Hạ đường huyết cũng được ghi nhận.

Hiếm gặp rụng tóc ở bệnh nhân điều trị với Octreotide.

Viêm tụy cấp được ghi nhận ở một vài trường hợp, thường thấy xuất hiện trong vòng vài giờ hay vài ngày đầu điều trị Octreotide và hết dần sau khi ngừng thuốc. Viêm tụy cấp cũng có thể gặp ở những bệnh nhân điều trị Octreotide lâu dài có phát triển sỏi mật.

Trường hợp cá biệt, ghi nhận có rối loạn chức năng gan khi dùng Octreotide. Các biểu hiện này bao gồm :

– Viêm gan cấp không kèm theo ứ mật và chỉ số transaminase sẽ trở về bình thường khi ngừng thuốc.

– Tăng bilirubin huyết chậm kèm với sự tăng alkaline phosphatase, γ-glutamyl transferase và ở mức độ thấp hơn, transaminase.

Chú ý đề phòng:

Do khối u tuyến yên bài tiết GH đôi khi có thể phát triển gây các biến chứng nặng (như giảm thị trường), cần theo dõi tất cả các bệnh nhân cẩn thận. Nếu có các dấu hiệu khối u tăng kích thước, có thể lựa chọn phương thức điều trị khác.

Sự hình thành sỏi mật được ghi nhận từ 10-20% bệnh nhân dùng Octreotide trong thời gian dài. Kiểm tra siêu âm túi mật trước và trong quá trình điều trị Octreotide mỗi 6-12 tháng là cần thiết.

Ở một vài bệnh nhân có khối u thuộc hệ nội tiết dạ dày – ruột-tụy điều trị Octreotide có gặp trường hợp bộc phát không kiềm chế được các triệu chứng với biểu hiện tái phát các triệu chứng nặng.

Ở những bệnh nhân u đảo tụy, Octreotide có thể làm tăng tình trạng hạ đường huyết và kéo dài do có tác dụng ức chế bài tiết hormone tăng trưởng và glucagon tương đối mạnh hơn là insulin. Những bệnh nhân này cần được theo dõi chặt chẽ khi bắt đầu điều trị với Octreotide và mỗi khi thay đổi liều dùng. Những biến đổi về nồng độ glucose trong máu có thể được hạn chế bằng việc dùng những liều nhỏ và thường xuyên hơn. Đối với những bệnh nhân đái đường phụ thuộc insulin, có thể cần điều chỉnh lượng insulin điều trị khi dùng kết hợp với Octreotide.

Ở bệnh nhân xơ gan trong trường hợp xuất huyết làm tăng nguy cơ đái đường phụ thuộc insulin hoặc các thay đổi về nhu cầu dùng insulin ở những người đã mắc bệnh đái đường từ trước, việc theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose trong máu là cần thiết.

Lúc có thai và lúc nuôi con bú

Các nghiên cứu về sinh sản trên động vật không cho thấy có nguy cơ nào về tổn thương bào thai nhưng hiện chưa có kinh nghiệm về sử dụng Octreotide ở phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Những bệnh nhân này vì vậy chỉ được dùng thuốc nếu thật cần thiết.

Thông tin thành phần Octreotide

Dược lực:

Octreotide là chất octapeptide tổng hợp có tác dụng dược lý tương tự như somatostatin tự nhiên, nhưng có thời gian tác dụng dài hơn đáng kể.

Dược động học :

– Hất thu: octreotide sau khi tiêm Octreotide phản ánh đặc điểm giải phóng thuốc từ khuôn pôlyme và thoái biến sinh học của thuốc. Một khi được giải phóng vào tuần hoàn hệ thống.

– Phân bố: octreotide được phân bố theo tính chất dược động học đã biết của nó như đã được mô tả trong tiêm dưới da. Khối lượng phân bố của octreotide ở trạng thái ổn định là 0,27L/kg và độ thanh thải toàn phần của cơ thể là 160mL/phút. Lượng gắn với protein huyết tương lên tới 65% và chủ yếu là không có thuốc gắn với tế bào máu.

Tác dụng :

Thuốc ức chế sự tăng bài tiết các peptide của hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP: gastroenteropancreatic) và hormone tăng trưởng (GH).

Ở người khỏe mạnh, octreotide giống như Somatostatin cho thấy các tác dụng ức chế đối với:

– Sự giải phóng hormone tăng trưởng (GH) kích thích bởi arginine, vận động và giảm đường huyết do insulin.

– Sự giải phóng insulin, glucagon, gastrin, các peptide khác thuộc hệ GEP và sự giải phóng insulin và glucagon kích hoạt bởi arginine xảy ra sau bữa ăn.

– Sự giải phóng kích giáp tố (TSH: thyroid-stimulating hormone) do hormone hướng giáp (thyrotropine-releasing hormone: TRH).

Ở bệnh nhân to viễn cực (bao gồm cả những người không đáp ứng với điều trị phẫu thuật, tia xạ hay dùng dopamine chủ vận), Octreotide, một công thức bào chế của octreotide phù hợp cho việc điều trị nhiều lần cách nhau 4 tuần, cung cấp đều đặn nồng độ điều trị trong huyết thanh của octreotide, do đó liên tục làm giảm nồng độ hormone tăng trưởng và/hoặc somatomedin C trong huyết tương.

Với những bệnh nhân có khối u của hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy, Octreotide do tác dụng nhiều mặt về nội tiết, làm thay đổi nhiều bệnh cảnh lâm sàng.

Chỉ định :

Ðiều trị những bệnh nhân bị mắc bệnh to cực:

– đã được kiểm soát thoả đáng bằng Octreotide tiêm dưới da, mà phẫu thuật, liệu pháp tia xạ hoặc chất chủ vận dopamine là không thích hợp hoặc không hiệu quả, hoặc trong giai đoạn tạm thời tới khi liệu pháp tia xạ hoàn toàn có hiệu quả. Ðiều trị những bệnh nhân có triệu chứng kết hợp với các u nội tiết cơ năng đường ruột-dạ dày-tuỵ mà triệu chứng đã được điều trị tốt bằng Octreotide tiêm dưới da;

– các u carcinoid với những đặc điểm của hội chứng carcinoid.

– các u VIP (VIP omas: u tụy chế tiết nhiều peptide vận mạch đường ruột).

– các u glucagon (glucagonomas: tiết glucagon quá mức).

– các u gastrine/ hội chứng Zollinger-Ellison.

– các u insulin, để khống chế hạ đường huyết trước phẫu thuật và điều trị bảo tồn.

– các u GRF (Yếu tố giải phóng hormone sinh trưởng).

Liều lượng – cách dùng:

Octreotide chỉ được sử dụng bằng cách tiêm mông sâu. Khi tiêm nhiều lần, phải lần lượt thay đổi chỗ tiêm từ mông phải sang mông trái.

Bệnh to cực:

Với bệnh nhân đã được điều trị tốt bằng Octreotide tiêm dưới da, nên bắt đầu điều trị bằng Octreotide 20mg cách nhau 4 tuần trong vòng 3 tháng. Ðiều trị bằng Octreotide có thể bắt đầu ngay sau ngày dùng liều tiêm Octreotide tiêm dưới da lần cuối cùng. Việc điều trị chỉnh liều lượng sau đó sẽ dựa vào nồng độ huyết thanh của hormone sinh trưởng (GH) và yếu tố sinh trưởng 1 (IGF1) giống insulin/somatomedin C và triệu chứng lâm sàng.

Với những bệnh nhân mà trong thời gian 3 tháng kể trên vẫn không kiểm soát tốt các triệu chứng lâm sàng và thông số sinh hoá (GH, IGF1) (nồng độ GH vẫn trên 2,5mcg/L), có thể tăng liều lượng lên 30mg, cách nhau 4 tuần. Với những bệnh nhân có nồng độ GH luôn dưới 1mcg/L và nồng độ IGF1 huyết thanh đã trở lại bình thường, và hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh to cực đã mất đi sau 3 tháng điều trị với liều 20mg, có thể cho liều 10 mg Octreotide cách nhau 4 tuần. Tuy nhiên, đặc biệt trong nhóm bệnh nhân này, nên theo dõi chặt chẽ các nồng độ huyết thanh của GH và IGF1 và các dấu hiệu/triệu chứng lâm sàng trong khi dùng liều Octreotide thấp như vậy.

Ðối với những bệnh nhân mà phẫu thuật, liệu pháp tia xạ hoặc liệu pháp chủ vận dopamine không thích hợp hoặc không có hiệu quả, trong giai đoạn tạm thời chờ cho liệu pháp tia xạ có hiệu quả, nên tiến hành một đợt điều trị thử ngắn với Octreotide tiêm dưới da để đánh giá đáp ứng và khả năng dung nạp toàn thân với octreotide trước khi khởi đầu điều trị bằng Octreotide như đã mô tả ở trên.

Các khối u nội tiết dạ dày-ruột-tụy:

Với những bệnh nhân mà triệu chứng đã được kiểm soát thoả đáng bằng Octreotide tiêm dưới da, nên bắt đầu điều trị bằng Octreotide 20mg cách nhau 4 tuần một lần. Ðiều trị bằng Octreotide tiêm dưới da có thể tiếp tục với liều trước đây đã có hiệu quả vào 2 tuần sau khi tiêm Octreotide lần đầu tiên. Ðối với những bệnh nhân trước đây không được điều trị bằng Octreotide tiêm dưới da, nên bắt đầu điều trị bằng Octreotide dưới da với liều 0,1mg, 3 lần mỗi ngày trong một thời gian ngắn (xấp xỉ 2 tuần) để đánh giá đáp ứng và khả năng dung nạp của cơ thể với octreotide trước khi khởi đầu điều trị bằng Octreotide như đã mô tả ở trên.

Với những bệnh nhân có triệu chứng và các dấu hiệu sinh học (biological markers) được kiểm soát tốt sau 3 tháng điều trị, liều lượng có thể giảm tới 10mg Octreotide cách nhau 4 tuần một lần.

Với những bệnh nhân mà triệu chứng mà triệu chứng chỉ được khống chế một phần sau 3 tháng điều trị, liều lượng có thể tăng lên tới 30mg Octreotide cách nhau 4 tuần một lần. Trong những ngày mà những triệu chứng kết hợp với các u dạ dày-ruột-tuỵ có thể tăng lên trong khi điều trị bằng Octreotide, nên bổ sung thêm Octreotide tiêm dưới da với liều đã dùng trước khi điều trị bằng Octreotide. Ðiều này có thể xảy ra chủ yếu trong 2 tháng điều trị đầu tiên cho tới khi đạt được nồng độ điều trị của octreotide.

Dùng trong bệnh nhân suy giảm chức năng thận:

Suy giảm chức năng thận không ảnh hưởng tới mức độ hấp thu toàn phần (AUC) với octreotide khi dùng đường dưới da bằng Octreotide. Do đó, không cần phải điều chỉnh liều lượng của Octreotide.

Dùng trong bệnh nhân suy giảm chức năng gan:

Trong một nghiên cứu với Octreotide tiêm dưới da và tĩnh mạch, người ta thấy khả năng thải trừ có thể bị giảm ở bệnh nhân xơ gan, nhưng không thấy ở bệnh nhân có bệnh mỡ hoá gan. Do giải chỉ định điều trị rộng của octreotid, không cần điều chỉnh liều lượng Octreotide ở bệnh nhân xơ gan.

Dùng ở người cao tuổi:

Trong một nghiên cứu với Octreotide tiêm dưới da, không cần diều chỉnh liều lượng ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi. Do đó cũng không cần điều chỉnh liều lượng cho nhóm bệnh nhân này đối với Octreotide.

Dùng ở trẻ em:

Hiện có rất ít kinh nghiệm trong sử dụng Octreotide ở trẻ em.

Chống chỉ định :

Quá mẫn với thành phần thuốc.

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ gặp phải khi điều trị Octreotide thường là ở tại chỗ và đường tiêu hoá. Phản ứng tại chỗ sau khi tiêm thường là nhẹ và ngắn hạn, bao gồm đau tại chỗ tiêm và rất hiếm khi sưng và nổi ban. Các tác dụng ở đường tiêu hoá bao gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, chướng bụng, đầy hơi, phân lỏng, tiêu chảy, đi ngoài phân mỡ. Trong một số ít trường hợp có thể có các triệu chứng giống tắc ruột như chướng bụng, cơn đau nặng vùng thượng vị, nhạy cảm đau khi ấn. Có thể làm giảm các tác dụng phụ nhờ tránh ăn ở quanh thời điểm dùng thuốc, tiêm thuốc ở khoảng giữa các bữa ăn hay khi đi ngủ.Ðiều trị lâu dài Octreotide có thể tạo nên sỏi mật.

Do tác dụng ức chế bài tiết insullin, Octreotide có thể làm giảm dung nạp glucose, có thể làm tăng đường huyết sau khi ăn. Hiếm gặp trường hợp tăng đường huyết dai dẳng khi điều trị kéo dài. Trường hợp cá biệt có ghi nhận sự rối loạn chức năng gan do thuốc. Các biểu hiện này bao gồm:

– Viêm gan cấp không kèm theo ứ mật và chỉ số transaminase sẽ trở về bình thường khi ngừng thuốc.

– Tăng bilirubin huyết chậm kèm với sự tăng alkaline phosphatase, gamma glutamil transferase và ở mức độ thấp hơn, transaminase.

Một số dấu hiệu rụng lông tóc đã gặp trong bệnh nhân điều trị bằng Octreotide. Trong một số rất ít trường hợp, đã gặp viêm tuỵ cấp trong vài giờ hoặc vài ngày đầu điều trị bằng Octreotide. Ngoài ra, sỏi đường mật gây viêm tuỵ cấp cũng thấy trong bệnh nhân điều trị lâu dài bằng Octreotide.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Asoct và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

Cần tư vấn thêm về Thuốc Asoct bình luận cuối bài viết.

Previous articleThuốc Xeltabine
Next articleThuốc Arezol
TS. BS Lucy Trinh là bác sĩ chuyên khoa ung bứu. Hiện đang công tác và làm việc tại bệnh viện ung bứu ; bác sĩ tư vấn tại nhathuoclp.com Trường Y: Tốt nghiệp Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2012 Bằng cấp chuyên môn: Thạc sĩ y khoa tại trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2017 Bác sĩ Lucy Trinh đã tiếp xúc với hàng ngàn bệnh nhân ung thư và nghiên cứu chuyên sâu về ung thư, với kiến thức thực tế về điều trị ung thư Chia sẻ kiến thức về thuốc điều trị ung thư và điều trị ung thư theo từng giai đoạn. NhaThuocLP.com được nhiều bác sĩ, phòng khám, bệnh viện và hàng ngàn bệnh nhân tin tưởng.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here