Thuốc Asthalin Inhaler

0
32
Asthalin Inhaler

AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Asthalin Inhaler công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Asthalin Inhaler điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Asthalin Inhaler ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

Asthalin Inhaler

Asthalin Inhaler
Nhóm thuốc: Thuốc tác dụng trên đường hô hấp
Dạng bào chế:ống hít
Đóng gói:Hộp 1 ống 200 liều

Thành phần:

Salbutamol
Hàm lượng:
100mcg/liều
SĐK:VN-3955-07
Nhà sản xuất: Cipla., Ltd – ẤN ĐỘ
Nhà đăng ký: Cipla., Ltd
Nhà phân phối:

Chỉ định:

Điều trị và phòng ngừa co thắt phế quản trong bệnh hen phế quản, viêm phế quản mạn tính và tràn khí phổi.
Tính chất:
Salbutamol là chất kích thích β-adrenergic có tác dụng chọn lọc trên thụ thể β­­2 trong cơ trơn phế quản. Ở liều điều trị thuốc có tác dụng ít hoặc không có tác dụng đối với các thụ thể β­­1 ở tim.
ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC:
Các nghiên cứu in vitro và nghiên cứu dược lực in vivo đã chứng minh salbutamol có tác dụng ưu tiên lên các thụ thể Bêta2-adrenergic so với proterenol. Trong khi các thụ thể Bêta2-adrenergic được công nhận là những thụ thể chủ yếu trong cơ trơn phế quản, các số liệu cho biết có 1 nhóm các thụ thể bêta2-adrenergic trong tim người tập trung với tỉ lệ khoảng 10% và 50% thụ thể Bêta-adrenergic ở tim. Chức năng chính xác của những thụ thể này chưa xác định.
Sự hoạt hóa các thụ thể bêta2-adrenergic trên cơ trơn khí quản dẫn đến hoạt hóa adenyl cyclase và làm tăng nồng độ trong tế bào của 3′,5′-adenosine monophosphate vòng (AMP vòng). Sự tăng AMP vòng làm hoạt hóa protein kinase A, gây ức chế phosphoryl hóa myosin và làm giảm nồng độ ion canxi trong tế bào, làm giãn cơ trơn. Salbutamol làm giãn cơ trơn của tất cả đường dẫn khí, từ khí quả cho đến tận cùng các tiểu phế quản. Salbutamol tác động như một chất đối kháng chứng năng làm giãn đường dẫn khí bất kể phần chất nguyên sinh liên quan, do đó giúp bảo vệ chống lại tất cả các chất kích thích co thắt phế quản. Nồng độ AMP vòng tăng cũng liên quan đế sự ức chế giải phóng các tác nhận trung gian từ các dưỡng bào trong đường dẫn khí.
Trong hầu hết các thử nghiệm đối chứng lâm sàng, salbutamol ở liều có thể so sánh đã được chứng minh có hiệu quả hơn trên đường hồ hấp, ở cách làm giãn cơ trơn phế quản, so với isoproterenol, trong khi tác dụng với tim mạch ít hơn. Các nghiên cứu đối chứng và kinh nghiệm lâm sàng khác đã chứng minh salbutamol dùng đường hít, cũng giống như các thuốc chủ vận beta-adrenergic khác, có thể có tác dụng tim mạch đáng kể ở 1 số bệnh nhân, khi đo nhịp mạch, huyết áp, triệu chứng và/hoặc các thay đổi điện tâm đồ.

ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC:
Salbutamol dùng qua đường tiêm tĩnh mạch có thời gian bán hủy từ 4-6 giờ và được thải trừ 1 phần qua thận và một phần qua sự chuyển hóa thành chất không có tác dụng 4′-O-sulphate (phenolic sulphat), chất này cũng được đà thải chủ yếu theo nước tiểu. Một phần nhỏ thuốc được bài tiết qua phân. Sau khi dùng salbutamol qua đường hít có khoảng 10-20% liều dùng tới đường khí quản dưới, phần còn lại được giữ trong hệ thống phân phối hoặc lắng đọng nơi hầu miệng và được nuốt. 
Phần lắng đọng trong đường thông khí được hấp thu vào các mô phổi và tuần hoàn nhưng không được chuyển hóa bởi phổi. Trên đường đến tuần hoàn hệ thống, thuốc có thể được chuyển hóa ở gan và được thải trừ chủ yếu theo nước tiểu ở dạng thuốc không chuyển hóa và dạng phenolic sulphate.
Phần thuốc được nuốt  được hấp thụ  ở đường tiêu hóa và được chuyển hóa thành phenolic sulphate. Cả 2 dạng chưa chuyển hóa và dạng liên kết được đào thải chủ yếu theo nước tiểu. Hầu hết các liều salbutamol dùng qua đường tiêm tĩnh mạch, đường uống hoặc đường hít được thải trừ trong vòng 72 giờ. Salbutamol liên kết với protein huyết tương với tỉ lệ 10%.
Các nồng độ salbutamol trong cơ thể thấp sau khi hít các liều khuyên dùng. Một nghiên cứu được tiến hành ở 12 đối tượng nam nữ khỏe mạnh dùng 1 liều cao hơn (1080 mcg salbutamol) đã chứng minh các nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương xấp xỉ bằng 3ng.ml sau khi sử dụng Salbutamol được phân phối với chất đẩy HFA-134a. Thời gian trung bình để đạt nồng độ tối đa (tmax) bị trì hoãn sau khi dùng salbutamol HFA (tmax=0,42 giờ) so với ống hít salbutamol dùng chất đẩy CFC (tmax = 0,17 giờ). Thời gian bán thải biểu kiến ở giai đoạn cuối của salbutamol xấp xỉ bằng 4,6 giờ. Chưa có các nghiên cứu thêm về dược động học của salbutamol HFA được tiến hành ở trẻn sơ sinh, trẻ em và người cao tuổi.

Liều lượng – Cách dùng

Người lớn:
 – Trị cơn co thắt phế quản cấp: hít 1-2 liều x 1 lần duy nhất.
 – Điều trị duy trì hoặc ngừa hen phế quản: 2 lần bơm x 3-4 lần mỗi ngày.
 – Phòng ngừa co thắt phế quản do gắng sức: hít 2 liều, 15 phút trước khi có gắng sức.
Trẻ em: Dùng nửa liều người lớn.
ĐƯỜNG DÙNG: bơm hít qua đường miệng
 – Trước khi dùng ống hít lần đầu hoặc nếu không dùng nó trong vòng một tuần hay lâu hơn, hãy thử nguồn phun bằng cách bơm 1 luồng hơi xịt vào trong không khí.
 – Tháo nắp đậy phần miệng ống ngậm, kiểm tra lại xem phần để miệng ngậm có sạch không. Lắc mạnh ống hít.
 – Cầm ống hít giữa ngón trỏ và ngón cái. Thở ra nhẹ nhàng bằng miệng và đặt ngay phần ngậm vào miệng giữa hai hàm răng (không chỉ cắn).
 – Dùng môi giữ chặt phần ngậm. Ngửa nhẹ đầu về phía sau. Bắt đầu hít vào chậm rãi bằng miệng, cùng lúc nhấn ống hít để giải phóng 1 liều dùng trong khi vẫn tiếp tục hít vào nhanh và sâu.
 – Lấy bình phun ra khỏi miệng. Nín thở ít nhất 1 giây hay càng lâu càng tốt. Thở ra chậm rãi. Nếu cần thêm 1 liều khác, chờ ít nhất 1 phút và lặp lại từ bước 1 đến bước 4. Sau khi sử dụng xong, đậy nắp phần ngậm lại.

Chống chỉ định:

Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với Salbutamol hay bất cứ thành phần nào của thuốc.

Tương tác thuốc:

Thuốc chống trầm cảm và IMAO.

Thuốc chẹn β không chọn lọc.

Tác dụng phụ:

Hiếm xảy ra: run cơ nhẹ, nhức đầu. Triệu chứng này thường mất khi tiếp tục điều trị.

Giống như những liệu pháp khí dung trị hen suyễn khác, có thể có khả năng xảy ra những cơn co thắt phế quản nghịch lý. Nếu xảy ra hiện tượng này thì phải ngưng ngay việc điều trị và lựa chọn cách điều trị khác thay thế.

Chú ý đề phòng:

– Thận trọng khi sử dụng Asthalin cho những bệnh nhân bị nhiễm độc tuyến giáp.

– Không nên kê toa Asthalin cùng lúc với thuốc chẹn β không chọn lọc như propranolol.

– Liệu pháp có chất chủ vận β­­2 có thể gây giảm kali huyết nghiêm trọng. Do đó cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân bị hen suyễn nặng ở giai đoạn cấp, vì tác dụng này có thể tăng thêm khi phối hợp điều trị chung với các thuốc dẫn xuất của xanthin, steroid, thuốc lợi tiểu và khi có sự giảm lượng oxy hít vào. Nên kiểm tra theo dõi sát nồng độ kali huyết thanh trong những trường hợp trên.

– Phụ nữ có thai: chỉ sử dụng nếu lợi ích đem lại cho người mẹ hơn hẳn những nguy cơ có thể xảy ra cho bào thai.

– Phụ nữ nuôi con bú: vì Salbutamol có thể bài tiết qua sữa mẹ, do đó nên cân nhắc khi sử dụng cho các bà mẹ đang nuôi con bú.

Thông tin thành phần Salbutamol

Dược lực:

Salbutamol [1-(4-(RS)-hydroxy-3-hydroxymethylphenyl)-2-(t-butylamino) ethanol] là chất chủ vận thụ thể adrenergic beta2 (beta2-adrenoceptor agonist).

Dược động học :

– Nếu dùng theo đường uống: Salbutamol được hấp thu dễ dàng qua hệ tiêu hóa. Salbutamol được chuyển hóa đáng kể trước khi vào máu. Chất chuyển hóa chủ yếu là liên hợp sulphat là chất dường như được hình thành trong niêm mạc ruột và bất hoạt. Khoảng 10% thuốc lưu hành trong máu ở dưới dạng gắn với protein. 58-78% lượng thuốc có gắn phóng xạ xuất hiện trong nước tiểu trong vòng 24 giờ và 65-84% trong 72 giờ sau khi uống thuốc. 34-47% thuốc gắn phóng xạ xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng liên hợp và khoảng một nửa lượng này nguyên dạng. Ðã chứng minh thuốc qua được nhau thai in vitro lẫn in vivo.

– Nếu dùng thuốc dưới dạng khí dung: Tác dụng giãn phế quản nhanh sau 2-3 phút.Khoảng 72% lượng thuốc hít vào đào thải qua nước tiểu trong vòng 24 giờ, trong đó 28% không biến đổi và 44% đã chuyển hoá. Thời gian bán thải khoảng 3,8 giờ.

– Nếu tiêm thuốc vào tĩnh mạch: nồng độ thuốc trong máu đạt ngay mức tối đa, rồi sau đó giảm dần. Gần 3/4 lượng thuốc được thải qua thận, phần lớn dưới dạng không thay đổi.

– Nếu tiêm dưới da: nồng độ thuốc tối đa trong huyết tương xuất hiện sớm hơn so với dùng theo đường uống. Sinh khả dụng là 100%, thời gian bán thải của thuốc là 5-6 giờ. Khoảng 25-35% lượng thuốc đưa vào được chuyển hoá và mất tác dụng. Thuốc được đào thải chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng còn hoạt tính và các dạng không còn hoạt tính.

Tác dụng :

Salbutamol có tác dụng trên cơ trơn và cơ xương, gồm có: dãn phế quản, dãn cơ tử cung và run. Tác dụng dãn cơ trơn tùy thuộc vào liều dùng và được cho rằng xảy ra thông qua hệ thống adenyl cyclase-AMP vòng, với việc thuốc gắn vào thụ thể beta-adrenergic tại màng tế bào gây ra sự biến đổi ATP thành AMP vòng làm hoạt hóa protein kinase. Ðiều này dẫn đến sự phosphoryl hóa các protein và cuối cùng làm gia tăng calci nội bào loại liên kết; calci nội bào ion hóa bị giảm bớt gây ức chế liên kết actin-myosin, do đó làm dãn cơ trơn.

Thuốc chủ vận b2 như salbutamol cũng có tác dụng chống dị ứng bằng cách tác dụng lên dưỡng bào làm ức chế sự phóng thích các hóa chất trung gian gây co thắt phế quản như histamin, yếu tố hóa ứng động bạch cầu đa nhân trung tính (NCF) và prostaglandin D2.

Salbutamol làm dãn phế quản ở cả người bình thường lẫn bệnh nhân suyễn hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) sau khi uống. Salbutamol còn làm gia tăng sự thanh thải tiêm mao nhầy (đã được chứng minh ở bệnh nhân COPD lẫn ở người bình thường).

Salbutamol kích thích các thụ thể beta2 gây ra các tác dụng chuyển hóa lan rộng: tăng lượng acid béo tự do, insulin, lactat và đường; giảm nồng độ kali trong huyết thanh.

Salbutamol có lẽ là chất có hiệu lực và an toàn nhất trong số các thuốc dãn phế quản loại giống giao cảm.

Chỉ định :

Làm giảm và phòng ngừa co thắt phế quản ở bệnh nhân mắc bệnh tắc nghẽn đường thở có thể hồi biến.

Liều lượng – cách dùng:

* Viên uống:
Người lớn: mỗi lần một viên nang, ngày hai lần. 
* Dung dịch khí dung: 
Dạng hít khí dung và hít bột khô: Liều hít một lần khí dung là 100microgam và hít một lần bột khô là 200microgam salbutamol. 
Ðiều trị cơn hen cấp: 100microgam/liều cho người bệnh, hít 1 – 2 lần qua miệng, cách 15 phút sau, nếu không đỡ, có thể hít thêm 1 – 2 lần. Nếu đỡ, điều trị duy trì; không đỡ phải nằm viện. 
Ðề phòng cơn hen do gắng sức: Người lớn: dùng bình xịt khí dung để hít 2 lần, trước khi gắng sức từ 15 đến 30 phút; trẻ em: hít 1 lần, trước khi gắng sức 15 đến 30 phút. 
Người lớn: 
Liều thường dùng 2,5 – 5mg salbutamol (dung dịch 0,1%) qua máy phun sương, hít trong khoảng 5 – 15 phút, có thể lặp lại mỗi ngày tới 4 lần. Có thể pha loãng dung dịch 0,5% với dung dịch natri clorid 0,9% để có nồng độ 0,1%. Có thể cho thở liên tục qua máy phun sương, thường ở tốc độ 1 – 2mg salbutamol mỗi giờ, dùng dung dịch 0,005 – 0,01% (pha với dung dịch natri clorid 0,9%). Phải đảm bảo cho thở oxygen để tránh giảm oxygen máu. 
Một vài người bệnh có thể phải tăng liều đến 10mg salbutamol. Trường hợp này có thể hít 2ml dung dịch salbutamol 0,5% (không cần pha loãng) trong khoảng 3 phút, ngày hít 3 – 4 lần. 
Trẻ em: 
50 – 150 microgam/kg thể trọng (tức là từ 0,01 đến 0,03ml dung dịch 0,5% /kg, không bao giờ được quá 1ml ). Kết quả lâm sàng ở trẻ nhỏ dưới 18 tháng không thật chắc chắn. 
Nếu cơn không dứt hoàn toàn thì có thể lặp lại liều trên 2 – 3 lần trong một ngày, các lần cách nhau từ 1 đến 4 giờ. Nếu phải dùng dạng khí dung nhiều lần thì nên vào nằm viện.
*Dung dịch tiêm
– Hô hấp: tiêm dưới da 0,5 mg, nếu cần lặp lại cách 4 giờ. 
– Khoa sản: pha 2,5 mg/200 mL Glucose 5% tiêm truyền IV chậm khi cấp cứu; duy trì: tiêm IM hay IV 0,5 mg/ lần x 4 lần/ngày.

Chống chỉ định :

Bệnh nhân có tiền sử tăng cảm với salbutamol.

Tác dụng phụ

Tác dụng phụ được giảm thiểu do dạng bào chế áp dụng công nghệ DRCM. Nhìn chung, salbutamol được dung nạp tốt và các tác dụng độc nguy hiểm là hiếm gặp. Các phản ứng bất lợi của salbutamol, nếu có, tương tự với các thuốc giống giao cảm khác, tuy nhiên với salbutamol tỷ lệ phản ứng trên tim mạch thấp hơn.

Tác dụng phụ thường gặp nhất là: bứt rứt và run. Các phản ứng khác có thể có: nhức đầu, tim nhanh và hồi hộp, vọp bẻ, mất ngủ, buồn nôn, suy nhược và chóng mặt. Hiếm gặp : nổi mề đay, phù mạch, nổi mẩn và phù hầu họng. Ở một số bệnh nhân, salbutamol có thể gây biến đổi về tim mạch (mạch, huyết áp, một số triệu chứng hoặc điện tâm đồ). Nhìn chung, các phản ứng phụ chỉ thoáng qua và thường không cần phải ngưng điều trị với salbutamol.
Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Asthalin Inhaler và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

Cần tư vấn thêm về Thuốc Asthalin Inhaler bình luận cuối bài viết.

Previous articleThuốc Afidil
Next articleThuốc Beathricin Lozenges
TS. BS Lucy Trinh là bác sĩ chuyên khoa ung bứu. Hiện đang công tác và làm việc tại bệnh viện ung bứu ; bác sĩ tư vấn tại nhathuoclp.com Trường Y: Tốt nghiệp Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2012 Bằng cấp chuyên môn: Thạc sĩ y khoa tại trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh năm 2017 Bác sĩ Lucy Trinh đã tiếp xúc với hàng ngàn bệnh nhân ung thư và nghiên cứu chuyên sâu về ung thư, với kiến thức thực tế về điều trị ung thư Chia sẻ kiến thức về thuốc điều trị ung thư và điều trị ung thư theo từng giai đoạn. NhaThuocLP.com được nhiều bác sĩ, phòng khám, bệnh viện và hàng ngàn bệnh nhân tin tưởng.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here