Blog

  • Thuốc Anbatik

    Thuốc Anbatik

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Anbatik công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Anbatik điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Anbatik ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Anbatik

    Anbatik
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế: Viên nang cứng

    Thành phần:

    Vincamin 20mg; Rutin 40mg
    SĐK:VD-32768-19
    Nhà sản xuất: Công ty dược phẩm và thương mại Phương Đông (TNHH) – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty CP Dược Mỹ phẩm Bảo An
    Nhà phân phối: azthuoc

    Chỉ định thuốc Anbatik

    Hỗ trợ điều trị suy tuần hoàn não: Giảm trí nhớ, mất khả năng tập trung
    Hỗ trợ tăng sức bền của thành mạch

    Liều lượng – Cách dùng thuốc Anbatik

    Cách dùng
    Thuốc dùng đường uống. Nên dùng thuốc trong khi ăn.
    Liều dùng
    Theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Trung bình:
    Người lớn: Uống mỗi lần 1 viên x 3 lần/ngày.

    Tương tác thuốc:

    Chống chỉ định phối hợp:

    Các thuốc gây xoắn đỉnh (amiodarone, bepridil, bretylium, disopyramide, erythromycine, đưỡng tĩnh mạch, nhóm quinidin, sotalol, sultopride): tăng nguy cơ gây xoắn đỉnh.

    Không nên phối hợp:

    Các thuốc gây hạ kali huyết: amphotericine B (đường tĩnh mạch), gluco-mineralo-corticoide (đường toàn thân), tetracosactide, thuốc lợi tiểu hạ kali huyết, thuốc nhuận trường kích thích, nguy cơ gây xoắn đỉnh (hạ kali huyết là một yếu tố thuận lợi cũng như nếu bệnh nhân đang bị chậm nhịp tum hay QT dài).

    Đối với amphotericine B, thuốc lợi tiểu, corticoide và tetracosactide: dự phòng hạ kali huyết và điều chỉnh nếu cần, theo dõi QT, trường hợp bị xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp (gây điện tâm thu).

    Đối với các thuốc nhuận trường kích thích: thay bằng nhóm thuốc nhuận trường không kích thích

    Các thuốc gây xoắn đỉnh (astemizole, halofandrine, pentamidine, sparfloxacine, terfenadine): tăng nguy cơ gây xoắn đỉnh. Nếu cần thiết phải phối hợp, nên tăng cường theo dõi lâm sàng và điện tâm đồ.

    Tác dụng phụ thuốc Anbatik

    Rất hiếm gặp: nhức đầu, nổi mẩn, rối loạn tiêu hóa.

    Chú ý đề phòng khi dùng thuốc Anbatik

    Trong di chứng của nhồi máu cơ tim và trong các rối loạn thực thể của nhịp tim, liều phải được tăng từ từ và trong thời gian điều trị phải theo dõi điên tâm đồ. Khi ở người bệnh, tính hưng phấn thay đổi do giảm kali huyết, chỉ nên bắt đầu điều trị sau khi đã ổn định trở lại kali huyết. Vincamin không có tác dụng hạ huyết áp lâu dài và không miễn trừ cho một điều trị đặc hiêu cao huyết áp. Thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai và đang cho con bú, trẻ sơ sinh.

    Thông tin thành phần Vincamine

    Dược lực:

    Vincamine là thuốc tác động trên sự chuyển hoá của tế bào thần kinh.

    Dược động học :

    Thuốc được hấp thu nhanh và đạt nồng độ tối đa trong máu sau 2 giờ. Thuốc được đào thải qua thận gồm 5 chất chuyển hóa và vicamine không bị biến đổi.

    Tác dụng :

    Vincamine có tác động trên sự chuyển hóa của tế bào thần kinh do làm tăng sức tiêu thụ oxy và giảm tỷ lệ lactate/pyruvate.

    Ngoài ra còn làm tăng lưu lượng máu về các nơi bị thiếu máu cục bộ.

    Chỉ định :

    Cải thiện các triệu chứng suy giảm trí tuệ do bệnh lý ở người già (giảm khả năng chú ý và trí nhớ).

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều thường dùng là mỗi lần 1 viên, 3 lần/ngày vào mỗi bữa ăn.

    Chống chỉ định :

    Tân sinh mô não với tăng áp lực nội sọ.

    Phối hợp với thuốc chống loạn nhịp hoặc gây xoắn đỉnh.

    Thông tin thành phần Rutin

    Dược lực:

    Rutin là một bioflavonoid dễ dàng tìm thấy trong lúa mạch, có thể hỗ trợ cơ thể hấp thu vitamin C. Nó cũng hoạt động như một chất chống oxy hóa để ngăn chặn các tổn thương do gốc tự do, và có thể làm giảm nguy cơ tăng huyết áp.Rutin không những dùng để phòng đột quỵ, còn sử dụng cho những người hồi phục từ sau cơn đột quỵ và các bệnh xuất huyết khác nhờ tác dụng tăng cường và xây dựng lại các mạch máu bị hư hỏng.

    Tác dụng :

    Rutin là một loại vitamin P, có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Chữ P là chữ đầu của chữ permeabilite có nghĩa là tính thấm. Ngoài rutin có tính chất vitamin P ra, còn nhiều chất khác có tính chất đó nữa như: esculozit, hesperidin (trong vỏ cam)… Rutin có tác dụng chủ yếu là bảo vệ sức chịu đựng bình thường của mao mạch. Thiếu chất vitamin này tính chất chịu đựng của mao mạch có thể bị giảm, mao mạch dễ bị đứt vỡ, hiện tượng này trước đây người ta chỉ cho rằng do thiếu vitamin C, gần đây mới phát hiện sự liên quan đến vitamin P.

    Bằng cách tăng cường các mạch máu, đặc biệt là hầu hết các mao mạch, bổ sung tuyệt vời này sẽ làm giảm mạnh nguy cơ bị đột quỵ lần thứ hai hoặc bất kỳ rối loạn liên quan khác. Nó giúp giảm viêm và giữ cho các thành của các mạch máu này dày và chắc hơn, có thể ngăn chặn nhiều dạng khác nhau của xuất huyết, bao gồm đột quỵ.

    Chỉ định :

    Điều trị hội chứng chảy máu, xơ cứng, tăng huyết áp, ban xuất huyết, chứng giãn tĩnh mạch (phù, đau, nặng chân, bệnh trị…) đồng thời tăng sức bền và giảm tính thấm của mao mạch.

    Liều lượng – cách dùng:

    Người lớn: 500mg x 2 lần/ngày.
    Trẻ em cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng.

    Tác dụng phụ

    Một số trường hợp xảy ra rối loạn tiêu hóa và rối loạn thần kinh thực vật nhẹ, không cần phải Ngưng Điều trị.

    Thông báo cho bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Anbatik và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Anbatik bình luận cuối bài viết.

    Nguồn tham khảo uy tín

    Thuốc Anbatik cập nhật ngày 15/12/2020: https://drugbank.vn/thuoc/Anbatik&VD-32768-19

  • Thuốc Arip tablet 10mg

    Thuốc Arip tablet 10mg

    Arip tablet 10mg

    Arip tablet 10mg
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 10 vỉ x 10 viên; hộp 3 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Aripiprazole 10 mg
    SĐK:VN-22478-19
    Nhà sản xuất: Torrent Pharm., Ltd – ẤN ĐỘ
    Nhà đăng ký: Torrent Pharm., Ltd
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
    Điều trị các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong Rối loạn lưỡng cực I và để ngăn ngừa một giai đoạn hưng cảm mới ở những người trưởng thành trải qua giai đoạn hưng cảm chủ yếu và các giai đoạn hưng cảm đã đáp ứng với điều trị aripiprazole;

    Liều lượng – Cách dùng

    Tâm thần phân liệt:
    Liều thông thường:
     
    Liều khuyến cáo khởi đầu và liều đích là 10-15 mg/ngày, dùng một lần, không phụ thuộc bữa ăn. Thuốc đã được đánh giá một cách hệ thống và cho thấy thuốc có hiệu lực với các liều 10-30 mg/mgày, tuy nhiên, liều cao hơn 10-15 mg/ngày (là liều thấp nhất trong các thử nghiệm này) cũng không có hiệu lực hơn liều 10-15 mg/ngày. Không tăng liều trước 2 tuần vì đây là thời gian cần để đạt trạng thái ổn định. 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    Thường không cần thiết phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng suy gan thận. 
    Phối hợp aripiprazole với thuốc ức chế CYP3A4: 
    Khi phối hợp ketoconazole với aripiprazole cần phải giảm liều aripiprazole xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP3A4. 
    Phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6: 
    Khi phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6 ví dụ khi phối hợp với quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine với aripiprazole, thì cũng phải giảm liều aripiprazole ít nhất xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP2D6. 
    Phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4: 
    Khi phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4 ví dụ như phối hợp với carbamazepine thì cần dùng liều aripiprazole gấp đôi (tới 20-30mg). Việc tăng liều nên dựa theo đánh giá lâm sàng. Khi ngưng carbamazepine thì nên giảm liều aripiprazole xuống còn 10-15mg/ngày. 

    Điều trị duy trì: 
    Vì chưa có số liệu có giá trị về việc sử dụng aripiprazole dài hạn, việc đánh giá một cách hệ thống bệnh nhân tâm thần phân liệt đã ổn định về triệu chứng với các thuốc chống loạn thần khác trong thời gian ≥3 tháng, đã ngừng các thuốc đó và sau đó dùng Aripiprazole 15mg/ngày và được theo dõi tái phát trong thời gian 26 tuần, cho thấy điều trị duy trì như thế là có lợi. Cần định kỳ đánh giá lại để xác định nhu cầu điều trị duy trì. 

    Chuyển đổi từ các thuốc chống loạn thần khác: 
    Chưa có dữ liệu được thu thập có hệ thống về việc chuyển bệnh nhân tâm thần phân liệt đã dùng thuốc tâm thần khác sang Aripiprazole hoặc về việc phối hợp Aripiprazole với các thuốc tâm thần khác. Việc ngừng đột ngột thuốc tâm thần dùng trước đó mặc dù có thể chấp nhận được ở một số bệnh nhân tâm thần phân liệt, tuy nhiên với các bệnh nhân khác thì ngưng từ từ có thể thích hợp hơn. Trong mọi trường hợp, thời kỳ giao nhau giữa các thuốc nên được giảm xuống tối thiểu. 
    Hưng cảm lưỡng cực: 
    Liều thông thường: 
    Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều khởi đầu là 30mg ngày 1 lần. Liều 30mg/ngày được thấy là có hiệu quả khi dùng dưới dạng viên. Khoảng 15% bệnh nhân được giảm liều xuống 15mg dựa vào mức độ dung nạp. Tính an toàn của các liều cao hơn 30mg/ngày hiện chưa được đánh giá qua thử nghiệm lâm sàng. 
    Liều duy trì: 
    Hiện chưa có số liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát để đưa ra khuyến cáo về liều lượng khi sử dụng dài hạn cho bệnh nhân đã có cải thiện sau khi điều trị cơn cấp tính với aripriprazole. Mặc dù việc tiếp tục điều trị sau khi cơn cấp tính có đáp ứng là cần thiết, nhằm duy trì đáp ứng lúc đầu và ngăn ngừa tái phát cơn hưng cảm cấp tính, hiện chưa có dữ liệu có hệ thống ủng hộ việc sử dụng aripriprazole trong điều trị dài hạn như thế (dùng quá 3 tuần). 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    xem Liều ở các đối tượng đặc biệt trong Liều lượng và Cách dùng: Tâm thần phân liệt. 
    Quá liều 
    Chất kiểm tra: Aripiprazole (aripiprazole) không phải là chất để kiểm tra.
    Lạm dụng và lệ thuộc thuốc: 
    Chưa có nghiên cứu có hệ thống ở người về khả năng gây lạm dụng, lệ thuộc thuốc hoặc dung nạp thuốc của aripiprazole. Nghiên cứu trên khỉ về lệ thuộc thuốc, thấy có triệu chứng cai khi ngừng thuốc đột ngột. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng chưa cho thấy có khuynh hướng nào về thái độ lệ thuộc thuốc, các nhận xét trên chưa có hệ thống và không thể dùng để làm cơ sở kinh nghiệm, vì các thuốc tác động trên thần kinh trung ương có thể bị lạm dụng một khi đưa ra thị trường. 
    Vì vậy, bệnh nhân cần được đánh giá rất cẩn thận về tiền sử lạm dụng thuốc và những bệnh nhân như thế cần được theo dõi tỉ mỉ các dấu hiệu lạm dụng hoặc dùng sai Aripiprazole (ví dụ: tăng dung nạp, tăng liều, thái độ lệ thuộc thuốc).

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn cảm với thành phần của thuốc.

    Tương tác thuốc:

    Aripiprazole tác dụng chủ yếu trên thần kinh trung ương, cho nên thận trọng khi phối hợp Aripiprazole với rượu và các thuốc tác động lên thần kinh trung ương. Do có tác dụng đối kháng ở thụ thể alpha1-adrenergic, nên aripiprazole có khả năng làm tăng tác dụng của một số thuốc chống tăng huyết áp.

    Ảnh hưởng của các thuốc khác đối với Aripiprazole:

    Aripiprazole không phải là cơ chất của các enzym CYP1A1, CYP1A2, CYP2A6, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2E1. Aripiprazole cũng không bị trực tiếp liên hợp glucuronic. Điều này cho thấy không thể có tương tác giữa aripiprazole với các chất ức chế hoặc các chất cảm ứng các enzym trên, hoặc không có tương tác với các yếu tố khác như hút thuốc lá.

    Cả CYP3A4 và CYP2D6 đều chịu trách nhiệm về chuyển hoá của aripiprazole. Những chất cảm ứng CYP3A4 (như carbamazepine) có thể làm tăng thanh lọc aripiprazole và làm giảm hàm lượng của thuốc này trong máu. Thuốc ức chế CYP3A4 (như ketoconazole) hoặc ức chế CYP2D6 (như quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine) có thể ức chế sự đào thải của aripiprazole và gây tăng nồng độ aripiprazole trong máu.

    Ketoconazole:

    Phối hợp ketoconazole (mỗi ngày 200mg, dùng trong 14 ngày) với liều đơn 15mg aripiprazole làm tăng AUC của aripiprazole lên 63% và AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính lên 77%. Chưa nghiên cứu về tác dụng của liều ketoconazole cao hơn (400mg mỗi ngày). Khi có phối hợp như trên, cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole. Các chất ức chế mạnh CYP3A4 (như itraconazole) cũng có tác dụng như trên, do đó cần giảm liều aripiprazole khi dùng chung. Chưa có nghiên cứu các chất ức chế yếu CYP3A4 (như erythromycin, nước bưởi). Khi ngưng dùng thuốc ức chế CYP3A4 trong phối hợp, có thể tăng lại liều aripiprazole tới liều thường dùng.

    Quinidine:

    Phối hợp liều đơn 10mg aripiprazole với quinidine (mỗi ngày 166mg, dùng trong 13 ngày). Quinidine là chất ức chế mạnh CYP2D6, sẽ làm tăng AUC của aripiprazole lên 112%, nhưng làm giảm 35% AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole khi phối hợp.

    Các chất ức chế khác của CYP2D6, như fluoxetin, paroxetin có thể cũng có ảnh hưởng như trên và do dó cũng nên giảm liều aripiprazole. Khi ngưng dùng chất ức chế CYP2D6 trong phối hợp thuốc, có thể tăng lại liều aripiprazole.

    Carbamazepine:

    Phối hợp carbamazepine (200mg, hai lần mỗi ngày) là chất cảm ứng mạnh CYP3A4 với aripiprazole (mỗi ngày 30 mg) sẽ làm giảm 70% Cmax và giá trị AUC của cả aripiprazole và của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Khi thêm carbamazepine vào liệu pháp aripiprazole, cần tăng gấp đôi liều aripiprazole. Liều lượng thêm vào cần dựa vào đánh giá lâm sàng. Khi rút carbamazepine ra khỏi phối hợp trên, cần giảm liều aripiprazole trở lại.

    Không thấy ảnh hưởng rõ rệt của famotidine, valproat hoặc của lithium trên dược động học của aripiprazole.

    Ảnh hưởng của Aripiprazole tới các thuốc khác:

    Aripiprazole không có tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng tới các thuốc chuyển hoá qua enzym cytocrôm P450. Nghiên cứu in vivo, với liều 10-30 mg/ngày, thấy aripiprazole không ảnh hưởng tới chuyển hoá bởi các cơ chất của CYP2D6 (dextromethorphan), CYP2C9 (warfarin), CYP2C19 (omeprazole, warfarin) và CYP3A4 (dextromethorphan). Ngoài ra, aripiprazole và dehydro-aripiprazole in vitro không làm thay đổi chuyển hoá của thuốc khác qua CYP1A2.

    Rượu:

    Không có khác biệt có ý nghĩa giữa aripiprazole phối hợp với ethanol và placebo + ethanol trên biểu hiện khéo léo về vận động hoặc vè đáp ứng với các xung kích thích ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên, cũng như với nhiều thuốc tâm thần khác, bệnh nhân cần được cảnh báo không uống rượu khi đang dùng Aripiprazole.

    Tác dụng phụ:

    Độ an toàn của aripiprazole đã được đánh giá trên 7951 bệnh nhân dùng nhiều liều trong các thử nghiệm trước khi đưa ra thị trường ở người tâm thần phân liệt, cơn hưng cảm lưỡng cực và sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Tổng cộng 2280 người dùng aripiprazole được điều trị ít nhất 180 ngày và 1558 người dùng thuốc này đã dùng thuốc ít nhất 1 năm.

    Các điều kiện và thời gian điều trị với aripiprazole bao gồm mù kép, nghiên cứu mở có và không có so sánh, nghiên cứu ở bệnh nhân nội trú và ngoại trú, với các liều cố định và linh động, nghiên cứu ngắn hạn và dài hạn. Đã thu thập các tác dụng phụ qua bệnh nhân báo cáo, cũng như từ kết quả khám nghiệm bệnh nhân, dấu hiệu sống, cân nặng, phân tích labô, điện tâm đồ.

    Trong các bảng tổng kết tác dụng phụ dưới đây, các nhà nghiên cứu lâm sàng đã sử dụng từ điển danh pháp Costart cải tiến, nhằm phân loại các tác dụng phụ vào những nhóm nhỏ, với mục đích cung cấp những ước lượng có ý nghĩa về tỉ lệ các cá nhân có tác dụng phụ của thuốc.

    Tần suất các tác dụng phụ biểu hiện tỷ lệ các cá thể có ít nhất một hiện tượng có hại gặp khi điều trị đã được liệt kê trong danh mục. Một hiện tượng được xem là do điều trị khi nó xảy ra lần đầu hoặc xấu đi trong khi được điều trị.

    Bác sĩ cần lưu ý là những số liệu trong các bảng sau không thể dùng để dự đoán tần suất các tác dụng phụ trong thực hành hàng ngày do có sự khác biệt giữa bệnh nhân đang được điều trị và những bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn tùy thuộc vào cách điều trị, cách dùng thuốc và người nghiên cứu. Tuy nhiên, các số liệu dưới đây cũng có thể cung cấp một cơ sở để đánh giá về ảnh hưởng tương đối của thuốc và các yếu tố khác không phải thuốc vào tần suất của các tác dụng phụ ở quần thể nghiên cứu.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào 5 cuộc thử nghiệm có kiểm soát placebo (4 thử nghiệm 4 tuần và 1 thử nghiệm 6 tuần) mà aripiprazole được dùng với liều 2-30 mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (7%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương tự giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào một thử nghiệm 3 tuần có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực trong đó aripriprazole được sử dụng ở liều 15 hay 30mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (11%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương đương giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Những tác dụng phụ thường quan sát được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ thường quan sát được có liên quan đến việc dùng aripriprazole ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực (tần suất ≥5% và tần suất của nhóm aripriprazole ìt nhất là gấp đôi của nhóm placebo) được liệt kê ở Bảng 1. Không có tác dụng phụ nào trong thử nghiệm ngắn hạn của bệnh tâm thần phân liệt đáp ứng các tiêu chuẩn này.

    Bảng 1. Các tác dụng phụ thường gặp trong thử nghiệm ngắn hạn có kiểm soát placebo ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    % bệnh nhân báo cáo có tác dụng phụ

    Tác dụng phụ Aripriprazole Placebo

    (n=597) (n=436)

    Tổn thương ngẫu nhiên 6 3

    Táo bón 13 6

    Nằm ngồi không yên 15 4

    Tác dụng phụ do liều lượng:

    Tâm thần phân liệt:

    Sự liên quan giữa đáp ứng với liều về tần suất các tác dụng phụ do dùng thuốc đã được đánh giá trong 4 thử nghiệm trên bệnh nhân tâm thần phân liệt so sánh các liều cố định (2-10-15-20 và 30mg/ ngày) của aripiprazole so với placebo. Phân tích cho thấy chỉ có một tác dụng phụ là có thể liên quan tới đáp ứng liều lượng và chỉ nổi bật với liều 30mg, đó là buồn ngủ (placebo: 7,7%; 15mg: 8,7%; 20mg: 7,5%; 30mg: 15,3%).

    Triệu chứng ngoại tháp (EPS):

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, tần suất các EPS ở người dùng aripiprazole là 6% so với ở placebo là 6%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất các tác dụng phụ liên quan đến EPS, ngoại trừ chứng nằm ngồi không yên, ở người dùng aripiprazole là 17% so với ở placebo là 12%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất bị chứng nằm ngồi không yên ở người dùng aripriprazole là 15% so với ở placebo là 4%. Các dữ liệu khách quan thu thập được trong các thử nghiệm này dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barmes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assessments of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) cũng không cho thấy sự khác biệt giữa aripiprazole với placebo, ngoại trừ thang điểm Barmes Akathisia Scale (aripiprazole: 0,08; placebo: -0,05).

    Tương tự, trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, các dữ liệu khách quan thu thập được dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barnes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assesment of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) không cho thấy có khác biệt giữa aripiprazole và placebo.

    Bất thường về các thử nghiệm trong labô:

    So sánh giữa 2 nhóm trong 3-6 tuần trong các thử nghiệm có kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa nhóm dùng thuốc và nhóm placebo về tỷ lệ các bệnh nhân có những thay đổi đáng kể về phương diện lâm sàng trong các thông số thường quy về hoá sinh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu. Đồng thời, không có khác biệt giữa aripiprazole với placebo về tỷ lệ ngừng thuốc do thay đổi về hoá sinh huyết thanh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu.

    Trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần), có kiểm soát placebo, không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa 2 nhóm dùng aripiprazole và placebo về sự thay đổi trung bình so với mức cơ bản của prolactin, glucose-máu khi đói, triglyceride, HDL-C, LDL-C và cholesterol toàn phần trong máu.

    Tăng thể trọng:

    Trong thử nghiệm ngắn ngày 4-6 tuần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, chỉ có khác biệt nhỏ về tăng thể trọng trung bình giữa nhóm aripiprazole và nhóm placebo (+0,7kg so với -0,05kg) và cũng có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng (ở nhóm dùng thuốc là 8% so với nhóm placebo 3%). Trong thử nghiệm ngắn ngày 3 tuần trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tăng cân trung bình của nhóm dùng aripriprazole là 0,0kg so với -0,2kg ở nhóm dùng placebo. Tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng là 3% ở nhóm dùng aripriprazole so với ở nhóm dùng placebo là 2%.

    Bảng 3 cung cấp các kết quả về thay đổi thể trọng khi dùng thuốc dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, cả sự thay đổi trung bình so với mức độ cơ bản và tỷ lệ các bệnh nhân tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng so với mức cơ bản, dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI) ở mức cơ bản:

    Thay đổi về điện tâm đồ:

    So sánh giữa các nhóm trong các thử nghiệm kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt rõ rệt giữa các nhóm aripiprazole và placebo về tỷ lệ bệnh nhân có thay đổi quan trọng về các thông số điện tâm đồ; trong thực tế, giữa khoảng liều 10-30mg/ngày, thấy aripiprazole có khuynh hướng làm ngắn đoạn QT. Aripiprazole làm tăng nhịp tim (trung bình 4 nhịp/phút) so với 1 nhịp/phút ở nhóm placebo.

    Những ghi nhận thêm khi thử nghiệm lâm sàng:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm dài ngày, mù kép, có kiểm soát placebo:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm 26 tuần, mù kép, so sánh Aripiprazole với placebo thường phù hợp với các hiện tượng thường gặp ở các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo, trừ tần suất cao hơn về run [9% (13/153) với Aripiprazole so với 1% (2/153) ở placebo]. Trong nghiên cứu này, phần lớn các trường hợp run có cường độ thấp (9/13 nhẹ và 4/13 trung bình), xảy ra sớm khi điều trị (9/13 trong ≤49 ngày) và cũng không tồn tại lâu (9/13 ≤10 ngày). Run ít khi phải ngừng thuốc (Các tác dụng phụ khác trong khi đánh giá aripiprazole trước khi đưa ra thị trường:

    Cần lưu ý là mặc dầu các hiện tượng được báo cáo trong khi điều trị với aripiprazole cũng không nhất thiết là do thuốc này gây nên. Các hiện tượng được nêu theo hệ cơ quan và sắp xếp theo tần số giảm dần dựa theo các định nghĩa sau: các hiện tượng có hại hay gặp là ở ít nhất 1% bệnh nhân; các hiện tượng ít gặp là ở từ 1% đến 0,1% bệnh nhân; các hiện tượng hiếm gặp xảy ra cho ít hơn 1/1000 bệnh nhân.

    Toàn cơ thể:

    Hay gặp: hội chứng giống cúm, đau ngực, cứng cổ, cứng đầu chi, đau cổ, đau vùng chậu.

    Ít gặp: phù mặt, ý tưởng tự vẫn, khó ở, nhức nửa đầu, ớn lạnh, nhạy cảm ánh sáng, cảm giác căng cứng (ở bụng, ngực, lưng, đầu chi, đầu, hàm, cổ, lưỡi) đau hàm, đầy bụng, căng bụng, căng ngực, đau họng.

    Hiếm: moniliase, nặng đầu, sưng họng, hội chứng Mendelson, đột qụy.

    Hệ tim mạch:

    Hay gặp: nhịp tim nhanh (bao gồm nhịp nhanh thất và trên thất), hạ huyết áp, nhịp tim chậm.

    Ít gặp: đánh trống ngực, chảy máu, suy tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim, rung nhĩ, blốc nhĩ thất, kéo dài đoạn QT, ngoại tâm thu, thiếu máu cục bộ cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực, xanh xao, ngưng tim ngưng thở, viêm tĩnh mạch.

    Hiếm: blốc nhánh, cuồng động nhĩ, tim to, viêm tĩnh mạch huyết khối, suy tim – hô hấp.

    Hệ tiêu hoá:

    Hay gặp: buồn nôn, nôn.

    Ít gặp: tăng thèm ăn, nuốt khó, viêm dạ dày – ruột, đầy bụng, sâu răng, viêm dạ dày, viêm lợi, xuất huyết tiêu hóa, trĩ, trào ngược dạ dày – thực quản, áp xe quanh răng, đại tiện không kiềm chế được, chảy máu trực tràng, viêm miệng, viêm ruột kết, phù lưỡi, viêm túi mật, loét miệng, moniliase miệng, ợ hơi, chèn ép phân.

    Hiếm: viêm thực quản, ói máu, tắc ruột, chảy máu lợi, viêm gan, loét đường tiêu hóa, viêm lưỡi, tiêu ra máu, loét tá tràng, viêm môi, gan to, viêm tụy.

    Hệ nội tiết:

    Ít gặp: suy giáp.

    Hiếm: bướu giáp, cường giáp.

    Hệ máu / Bạch huyết:

    Hay gặp: bầm máu, thiếu máu.

    Ít gặp: thiếu máu nhược sắc, tăng bạch cầu, giảm bạch cầu (kể cả giảm bạch cầu trung tính), bệnh hạch bạch huyết, tăng bạch cầu ưa eosin, thiếu máu đại hồng cầu.

    Hiếm: giảm tiểu cầu, tăng tạo tiểu cầu, đốm xuất huyết.

    Rối loạn chuyển hoá / dinh dưỡng:

    Hay gặp: giảm cân, tăng creatin – phosphokinase, mất nước.

    Ít gặp: phù, tăng đường huyết, tăng cholesterol máu, giảm kali máu, đái tháo đường, hạ đường huyết, tăng lipid máu, tăng SGPT, khát, tăng BUN, hạ natri máu, tăng SGOT, tăng creatinin, tím xanh, tăng phosphatase kiềm, bilirubin máu, thiếu máu thiếu sắt, tăng kali máu, tăng acid uric máu, béo phì.

    Hiếm: tăng lactic-delydrogenase, tăng natri máu, gút, phản ứng hạ đường huyết.

    Hệ cơ xương:

    Hay gặp: Chuột rút.

    Ít gặp: đau khớp, nhược cơ, bệnh khớp, đau xương, viêm khớp, yếu cơ, co thắt cơ, viêm túi thanh mạc, bệnh cơ.

    Hiếm: viêm khớp dạng thấp, tiêu cơ vân, viêm gân, viêm bao hoạt dịch.

    Hệ thần kinh:

    Hay gặp: trầm cảm, kích động, phản ứng tâm thần phân liệt, ảo giác, chống đối, lẫn lộn, phản ứng hoang tưởng, ý tưởng tự vẫn, dáng đi bất thường, phản ứng hưng cảm, giấc mơ bất thường.

    Ít gặp: cảm xúc thất thường, co giật, co cứng các chi, mất tập trung, rối loạn trương lực, giãn mạch, dị cảm, bất lực, run chân tay, giảm cảm giác, chóng mặt, trạng thái ngẩn ngơ, vận động chậm, lãnh đạm, tấn công hoảng loạn, giảm dục năng, ngủ nhiều, rối loạn vận động, phản ứng hưng cảm-trầm cảm, thất điều, ảo giác về thị giác, tai biến mạch não, vận động chậm chạp, mất nhân cách, mất trí nhớ, mê sảng, loạn vận ngôn, rối loạn vận động muộn, hay quên, tăng dục năng, máy cơ, bồn chồn không yên, bệnh thần kinh, cảm giác khó chịu, tăng động, thiếu máu cục bộ não, tăng phản xạ, mất vận động, giảm nhận thức, tăng cảm giác, suy nghĩ chậm chạp.

    Hiếm: cảm giác cùn mòn, sảng khoái, mất điều hoà động tác, cơn tăng vận nhãn, bị ám ảnh, giảm trương lực, hội chứng miệng-hầu, giảm phản xạ, mất thực tế, chảy máu trong sọ.

    Hệ hô hấp:

    Hay gặp: viêm xoang, khó thở, viêm phổi, hen.

    Ít gặp: chảy máu cam, nấc, viêm thanh quản, viêm phổi do hít.

    Hiếm: phù phổi, tăng tiết đờm, tắc mạch phổi, thiếu oxy, suy hô hấp, ngừng thở, khô mũi, ho ra máu.

    Da và phần phụ da:

    Hay gặp: loét da, chảy mồ hôi, da khô.

    Ít gặp: ngứa, phát ban phù nhú, trứng cá, chàm, mất màu da, rụng tóc, tăng tiết bã nhờn, vảy nến.

    Hiếm: ban sần, viêm da tróc vảy, mày đay.

    Giác quan:

    Hay gặp: viêm kết mạc.

    Ít gặp: đau tai, khô mắt, đau mắt, ù tai, cườm mắt, viêm tai giữa, giảm vị giác, viêm mi mắt, chảy máu mắt, điếc.

    Hiếm: nhìn đôi, hay nháy mắt, sa mí mắt, viêm tai ngoài, giảm thị lực, sợ ánh sáng.

    Hệ tiết niệu:

    Hay gặp: đái không kìm được.

    Ít gặp: hay tiểu tiện, khí hư, bí tiểu, viêm bàng quang, đái ra máu, tiểu khó, mất kinh, chảy máu âm đạo, xuất tinh bất thường, suy thận, moniliase âm đạo, bệnh thận, vú to ở đàn ông, sỏi thận, albumin niệu, đau vú, tiểu đau.

    Hiếm: đái đêm, tiểu nhiều, rong kinh, không đạt cực khoái khi hoạt động tình dục, đường niệu, viêm cổ tử cung, chãy máu tử cung, chảy sữa ở nữ, sỏi niệu, cương đau dương vật.

    Chú ý đề phòng:

    Hội chứng an thần ác tính:

    Đã có báo cáo về một hội chứng có khả năng gây tử vong đôi khi được quy là hội chứng an thần ác tính khi dùng các thuốc chống loạn thần, kể cả aripiprazole. Hai trường hợp có thể là hội chứng an thần ác tính đã xảy ra trong khi dùng aripiprazole trong cơ sở dữ liệu lâm sàng toàn thế giới trước khi đưa thuốc ra thị trường. Các biểu hiện lâm sàng gồm sốt cao, cứng đờ cơ, trạng thái tâm thần thay đổi, và biểu hiện không ổn định về thần kinh tự chủ (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi và loạn nhịp tim). Các dấu hiệu phụ có thể gồm: tăng creatin phosphokinase, myoglobin niệu, suy thận cấp.

    Việc chẩn đoán hội chứng này phức tạp. Để chẩn đoán, cần loại ra những trường hợp có biểu hiện lâm sàng gồm bệnh nặng (như viêm phổi, nhiễm khuẩn toàn thân…) và các dấu hiệu, triệu chứng ngoại tháp không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ. Những điều cần quan tâm khác trong chẩn đoán phân biệt gồm độc tính ức chế thần kinh phó giao cảm trung tâm, cảm nhiệt, sốt do thuốc, và bệnh hệ thần kinh trung ương nguyên phát.

    Việc điều trị hội chứng an thần ác tính có thể gồm:

    – Ngưng lập tức thuốc chống loạn thần và các thuốc khác không cần cho liệu pháp phối hợp.

    – Điều trị triệu chứng và theo dõi tình hình bệnh.

    – Điều trị mọi vấn đề y khoa nghiêm trọng đồng thời với những liệu pháp đặc hiệu.

    Không có sự thống nhất chung về các chế độ điều trị dùng thuốc đặc hiệu đối với hội chứng an thần ác tính không phức tạp.

    Nếu một bệnh nhân cần điều trị với thuốc chống loạn thần sau khi phục hồi khỏi hội chứng an thần ác tính, cần cân nhắc việc dùng thuốc trở lại. Cần theo dõi bệnh nhân, vì đã có báo cáo về những tái phát của hội chứng an thần ác tính.

    Loạn vận động muộn:

    Một hội chứng các cử động loạn vận động không tùy ý có khả năng không phục hồi có thể xảy ra ở bệnh nhân điều trị với các thuốc chống loạn thần. Mặc dù tỷ lệ của hội chứng có vẻ cao nhất ở những người cao tuổi, đặc biệt ở phụ nữ cao tuổi, tuy nhiên không thể dùng nó để tiên đoán khi bắt đầu liệu pháp chống loạn thần rằng bệnh nhân nào có khả năng bị hội chứng này. Các chế phẩm thuốc chống loạn thần có khác nhau về khả năng gây loạn vận động muộn hay không, điều này chưa được biết rõ.

    Người ta cho rằng nguy cơ xảy ra loạn vận động muộn và khả năng loạn vận động trở nên không phục hồi tăng lên khi thời gian điều trị và tổng liều tích lũy của thuốc chống loạn thần dùng cho bệnh nhân tăng lên. Tuy vậy, hội chứng cũng có thể xảy ra, mặc dầu ít gặp hơn nhiều, sau thời gian điều trị tương đối ngắn ở liều thấp.

    Chưa có trị liệu chuyên biệt đối với các trường hợp loạn vận động đã được xác định, tuy nhiên hội chứng có thể tự thuyên giảm, một phần hoặc hoàn toàn, nếu ngừng trị liệu chống loạn thần. Tuy vậy, bản thân trị liệu chống loạn thần có thể chặn (hoặc chặn một phần) các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng và do đó, có thể che dấu những diễn tiến bên trong. Hiện chưa biết rõ tác dụng của việc chặn các triệu chứng trên quá trình diễn biến dài hạn của hội chứng.

    Dựa trên những cân nhắc này, có thể chỉ định sử dụng Aripiprazole một cách phù hợp để giảm thiểu xảy ra loạn vận động muộn. Nói chung, nên dành trị liệu chống loạn thần lâu dài cho các bệnh nhân bị bệnh mạn tính được biết là có đáp ứng với thuốc chống loạn thần, và các liệu pháp khác có hiệu quả tương đương, nhưng có thể ít nguy hại hơn đối với bệnh đó thì lại không có hoặc không thích hợp. Đối với các bệnh nhân cần điều trị lâu dài, nên tìm ra liều nhỏ nhất và thời gian điều trị ngắn nhất mà cho hiệu quả lâm sàng tốt. Nhu cầu điều trị tiếp tục cần được định kỳ đánh giá lại.

    Nếu các dấu hiệu và triệu chứng của loạn vận động muộn xuất hiện ở một bệnh nhân đang điều trị với Aripiprazole, nên xem xét việc ngừng thuốc. Tuy nhiên, mặc dầu có hội chứng, một số bệnh nhân vẫn cần được điều trị với Aripiprazole.

    Thận trọng lúc dùng:

    Thận trọng chung:

    Hạ huyết áp tư thế:

    Aripiprazole có thể gây hạ huyết áp tư thế, có thể do sự đối kháng của thuốc với thụ thể giao cảm alpha1. Tần suất của các hiện tượng liên quan đến hạ huyết áp tư thế được rút ra từ 5 thử nghiệm ngắn hạn có kiểm chứng với placebo, ở bệnh tâm thần phân liệt (n=926) được điều trị với Aripiprazole bao gồm: hạ huyết áp tư thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 1,9%, chóng mặt thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 0,9%), và ngất (placebo 1%, aripiprazole 0,6%). Tỉ lệ của sự thay đổi huyết áp tư thế có ý nghĩa (được xác định là sự giảm ít nhất 30 mmHg về huyết áp tâm thu khi thay đổi từ tư thế nằm ngửa sang đứng) đối với aripiprazole không khác nhau có ý nghĩa so với placebo (14%) trong các bệnh nhân điều trị với aripiprazole và 12% trong các bệnh nhân điều trị với placebo).

    Dùng aripiprazole một cách thận trọng ở bệnh nhân đã được biết có bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim, thiếu máu cục bộ tim, suy tim và những bất thường về dẫn truyền), bệnh mạch máu não hoặc các điều kiện dẫn tới giảm huyết áp (như mất nước, mất máu và điều trị với các thuốc chống tăng huyết áp).

    Cơn động kinh:

    Động kinh gặp ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng aripiprazole ngắn ngày, trong thử nghiệm so sánh placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 0,3% (2/597) bệnh nhân dùng aripiprazole và 0,2% (1/436) bệnh nhân dùng placebo bi động kinh. Cũng như với các thuốc tâm thần khác, cần dùng thận trọng aripiprazole ở người có tiền sử động kinh hoặc có các điều kiện làm giảm ngưỡng động kinh, ví dụ sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Các điều kiện làm giảm ngưỡng cơn động kinh có thể trội ở người cao tuổi ≥65 tuổi.

    Suy giảm nhận thức và vận động:

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, thấy buồn ngủ có ở 11% bệnh nhân nhóm Aripiprazole so với 8% ở nhóm placebo. Buồn ngủ phải ngừng thuốc ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng Aripiprazole trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 14% bệnh nhân dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với tỉ lệ là 7% ở bệnh nhân dùng placebo, nhưng không có trường hợp nào khiến bệnh nhân phải ngưng thuốc. Mặc dầu tỷ lệ buồn ngủ hơi tăng hơn placebo, Aripiprazole cũng như các thuốc chống loạn thần khác cũng có thể làm suy giảm nhận thức hoặc sự khéo léo về vận động. Bệnh nhân cần thận trọng khi thao tác các máy móc dễ bị rủi ro, như lái xe, cho đến khi chắc chắn rằng dùng Aripiprazole không gây tác hại.

    Điều hoà thân nhiệt:

    Thuốc tâm thần có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng làm giảm thân nhiệt của cơ thể. Cần thận trọng khi kê đơn aripiprazole cho bệnh nhân trong điều kiện dẫn tới tăng thân nhiệt, ví dụ lao động quá căng thẳng, nhiệt độ môi trường quá cao, phối hợp với các thuốc kháng cholinergic hoặc bị mất nước.

    Khó nuốt:

    Rối loạn co bóp thực quản và sặc hay gặp khi dùng thuốc chống loạn thần. Viêm phổi do sặc là nguyên nhân hay gặp của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi, đặc biệt ở người sa sút trí tuệ Alzheimer. Cần dùng thận trọng aripiprazole và các thuốc chống loạn thần khác ở người có nguy cơ viêm phổi do sặc.

    Tự vẫn:

    Ý định tự vẫn vốn dễ có ở người bệnh tâm thần và cần lưu ý chặt chẽ đến bệnh nhân có nguy cơ cao trong khi dùng thuốc. Khi kê toa Aripiprazole, cần kê lượng ít nhất phù hợp với nguyên tắc điều trị bệnh nhân tốt để giảm nguy cơ quá liều.

    Sử dụng ở bệnh nhân có kèm bệnh khác:

    Độ an toàn ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh loạn thần kèm bệnh Alzheimer:

    Với liều linh động (2-15mg/ngày), dùng trong 10 tuần, có kiểm soát placebo, dùng aripiprazole ở người cao tuổi [81,5 (56-95) tuổi] bị loạn thần kèm bệnh Alzheimer. Có 4/105 bệnh nhân (3,8%) dùng Aripiprazole bị tử vong so với không có ai chết ở 102 người dùng placebo trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc giai đoạn mù kép của nghiên cứu. Có 3 bệnh nhân (tuổi: 92, 91, 87) tử vong sau khi ngừng Aripiprazole ở pha mù kép của nghiên cứu (nguyên nhân tử vong là viêm phổi, suy tim và sốc). Bệnh nhân thứ tư (78 tuổi) tử vong sau khi phẫu thuật hông trong khi đang ở giai đoạn mù đôi của nghiên cứu. Các hiện tượng có hại do thuốc có tần suất ≥5% và có tần suất cao hơn ở nhóm placebo là tổn thương do tai nạn, buồn ngủ và viêm phế quản. Có 8% người dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với 1% ở nhóm placebo. Trong một nghiên cứu nhỏ, mở, với liều tăng dần (n = 30) ở người già sa sút trí tuệ, thấy Aripiprazole gây buồn ngủ phụ thuộc liều dùng.

    Chưa đánh giá được hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng điều trị người loạn thần kèm sa sút trí tuệ. Khi kê đơn Aripiprazole cho những đối tượng này, cần đặc biệt cảnh giác nếu bệnh nhân có khó khăn về nuốt hoặc quá buồn ngủ.

    Kinh nghiệm lâm sàng với Aripiprazole ở bệnh nhân có bệnh toàn thân kèm theo còn hạn chế.

    Chưa đánh giá sử dụng Aripiprazole ở bệnh nhân vừa có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim không ổn định.

    Sử dụng trong nhi khoa:

    Chưa xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc đối với trẻ em và thanh niên.

    Sử dụng trong lão khoa:

    Thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường trên 7951 bệnh nhân dùng aripiprazole, trong số đó có 991 (12%) người trên 65 tuổi và 789 (10%) trên 75 tuổi. Phần lớn (88%) trong số 991 bệnh nhân được chẩn đoán là sa sút trí tuệ Alzheimer.

    Nghiên cứu có kiểm soát placebo về việc sử dụng aripiprazole ở người tâm thần phân liệt hoặc hưng cảm lưỡng cực không có đủ số lượng những người ≥65 tuổi để xác định xem họ có đáp ứng khác người trẻ tuổi không? Không có ảnh hưởng của tuổi tác đến dược động học của đơn liều 15mg aripiprazole. Độ thanh lọc của thuốc này giảm 20% ở người cao tuổi (> 65 tuổi) so với người trẻ tuổi (18-64 tuổi), nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của tuổi khi phân tích dược động học theo quần thể ở người tâm thần phân liệt.

    Nghiên cứu trên người cao tuổi bị bệnh loạn thần kèm Alzheimer cho thấy có thể có khả năng dung nạp khác nhau ở các đối tượng này so với người trẻ bị tâm thần phân liệt. Hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng chữa bệnh nhân loạn thần kèm theo Alzheimer chưa được xác định. Bác sĩ nên cảnh giác khi chọn Aripiprazole cho các đối tượng này.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    Lúc có thai:

    Nghiên cứu trên động vật, aripiprazole gây độc tính cho thai, bao gồm khả năng gây quái thai ở chuột cống và thỏ.

    Chuột cống có thai dùng liều uống 3-10-30 mg/kg/ngày (gấp 1-3-10 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole trong thời kỳ tạo cơ quan.

    Thời kỳ thai nghén có kéo dài chút ít với liều 30 mg/kg. Thuốc làm trì hoãn sự phát triển thai, với bằng chứng là làm giảm cân nặng thai (30 mg/kg), tinh hoàn không đi xuống (30 mg/kg), làm chậm sự hoá xương (10 và 30 mg/kg). Thuốc không có tác dụng có hại trên tỷ lệ sống sót của phôi thai và động vật mới sinh. Động vật mới sinh có giảm cân nặng (10 và 30 mg/kg) và tăng tần suất bị các nốt ở gan – cơ hoành và thoát vị hoành ở liều 30 mg/kg (các nhóm với liều khác không gặp các triệu chứng này). Một tần suất thấp về thoát vị hoành cũng gặp ở thai khi động vật mẹ dùng 30 mg/kg. Sau khi sinh, thấy chậm mở âm đạo với liều 10 và 30 mg/kg và khả năng sinh sản bị suy giảm (giảm tỉ lệ thụ thai, hoàng thể, làm tổ của trứng và số thai sống sót, tăng mất mát sau khi làm tổ) với liều 30 mg/kg. Một số độc tính với mẹ xảy ra với liều 30 mg/kg, tuy nhiên không có chứng cớ rằng các tác dụng về sự phát triển thai là thứ phát sau độc tính của thuốc với mẹ.

    Thỏ có thai uống các liều 10-30 và 100mg/kg/ngày (gấp 2-3 và 11 lần MRHD dựa vào AUC và 6-19 và 65 lần MRHD dựa vào mg/m2) của aripiprazole trong thời gian tạo cơ quan của thai. Thỏ mẹ giảm ăn uống và tăng sảy thai với liều 100 mg/kg. Dùng thuốc làm tăng tỉ lệ tử vong của thai nhi (100mg/kg), làm giảm cân nặng thai (30 và 100 mg/kg), tăng tần suất bất thường về bộ xương (đốt xương ức gắn vào nhau ở liều 30 và 100 mg/kg) và có thay đổi nhẹ ở bộ xương (100 mg/kg).

    Trong một nghiên cứu với chuột cống uống 3-10-30 mg/kg/ngày (gấp 1-3-10 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole chu sinh và sau sinh (từ ngày 17 của thai kỳ tới ngày 21 sau khi sinh), có độc tính nhẹ với chuột mẹ và kéo dài thời kỳ mang thai với liều 30 mg/kg. Chết ngay khi sinh tăng, giảm cân nặng chuột sơ sinh (kéo dài tới khi chuột lớn lên) và giảm sống còn xảy ra ở liều 30 mg/kg.

    Chưa có các nghiên cứu đầy đủ, có kiểm soát chặt ở người mang thai. Không rõ aripiprazole có gây tác hại cho thai khi dùng cho phụ nữ mang thai hoặc có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không? Chỉ dùng aripiprazole khi mang thai khi lợi ích cho mẹ vượt hẳn nguy cơ có thể có cho thai.

    Chuyển dạ và sinh đẻ:

    Tác dụng của aripiprazole đối với thời kỳ chuyển dạ và sinh đẻ ở người chưa được biết rõ.

    Lúc nuôi con bú:

    Aripiprazole bài tiết qua sữa chuột cống trong thời kỳ cho con bú. Chưa rõ aripiprazole và các chất chuyển hoá có qua sữa người hay không? Bà mẹ dùng aripiprazole phải ngừng cho con bú.

    Thông tin thành phần Aripiprazol

    Dược lực:

    Aripiprazole có ái lực cao đối với thụ thể của dopamin D2 và D3, serotonin 5-HT1A và 5-HT2A (các trị số Ki lần lượt là 0,34; 0,8; 1,7 và 3,4nM); có ái lực trung bình đối với thụ thể của dopamin D4, serotonin 5-HT2C và 5-HT7, thụ thể giao cảm alpha1 và thụ thể histamin H1 (các trị số Ki lần lượt là 44; 15; 39; 57 và 61nM); và có ái lực trung bình đối với vị trí tái nhận serotonin (Ki = 98nM). Aripiprazole không có ái lực đáng kể đối với thụ thể phó giao cảm của muscarin (IC50 > 1000nM).

    Aripiprazole tác động như chất chủ vận một phần ở các thụ thể của dopamin D2 và của serotonin 5-HT1A, và là chất đối kháng ở thụ thể của serotonin 5-HT2A.

    Chưa rõ cơ chế tác dụng của aripiprazole, cũng như các thuốc khác có hiệu quả đối với tâm thần phân liệt và hưng cảm lưỡng cực. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng hiệu quả của aripiprazole là do phối hợp hoạt tính chủ vận một phần ở các thụ thể D2 và 5-HT1A với hoạt tính đối kháng ở các thụ thể 5-HT2A. Tác dụng ở các thụ thể khác ngoài D2, 5-HT1A và 5-HT2A có thể giải thích được một số tác dụng lâm sàng khác của aripiprazole, ví dụ hạ huyết áp tư thế ghi nhận với aripiprazole có thể được giải thích bởi tác dụng đối kháng của thuốc ở các thụ thể giao cảm alpha1.

    Dược động học :

    Hoạt tính của Aripiprazole có thể chủ yếu do chất thuốc gốc, aripiprazole, và ở mức độ ít hơn do chất chuyển hoá chính là dehydro-aripiprazole, được chứng minh có ái lực đối với thụ thể D2 tương tự như thuốc gốc và chiếm 40% lượng thuốc gốc trong huyết tương. Thời gian bán thải trung bình khoảng 75 giờ đối với aripiprazole và 94 giờ đối với dehydro-aripiprazole. Các nồng độ ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 14 ngày dùng thuốc đối với cả hai dạng có hoạt tính. Có thể dự đoán sự tích luỹ của aripiprazole từ dược động học của một liều. Ở trạng thái ổn định, dược động học của aripiprazole tỷ lệ thuận với liều lượng. Aripiprazole đào thải chủ yếu qua chuyển hoá ở gan với sự tham gia của hai iso-enzym P450 là CYP2D6 và CYP3A4.

    Hấp thu:

    Aripiprazole hấp thu tốt, nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện trong vòng 3 đến 5 giờ, khả dụng sinh học khi uống của dạng viên nén là 87%. Có thể uống Abilify cùng hoặc không cùng thức ăn. Uống viên nén 15mg Abilify với một bữa ăn có nhiều mỡ theo tiêu chuẩn không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ tối đa (Cmax) hoặc diện tích dưới đường cong (AUC) của aripiprazole hoặc của chất chuyển hoá có hoạt tính, dehydro-aripiprazole, nhưng làm chậm Tmax 3 giờ đối với aripiprazole và 12 giờ đối với dehydro-aripiprazole.

    Phân bố:

    Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định của aripiprazole sau khi tiêm tĩnh mạch là cao (404L hoặc 4,9L/kg), cho thấy sự phân bố rộng ngoài mạch máu. Ở nồng độ điều trị, hơn 99% aripiprazole và chất chuyển hoá chủ yếu được gắn kết với protein huyết thanh, chủ yếu vào albumin. Người tình nguyện khoẻ mạnh uống 0,5 đến 30mg/ngày aripiprazole trong 14 ngày, có sự chiếm giữ thụ thể D2 phụ thuộc vào liều cho thấy sự thâm nhập của aripiprazole vào não ở người.

    Chuyển hoá và đào thải:

    Aripiprazole được chuyển hoá chủ yếu bởi 3 quá trình biến đổi sinh học: khử hydro, hydroxyl hoá và khử N-alkyl. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, các enzym CYP3A4 và CYP2D6 chịu trách nhiệm về sự khử hydro và hydroxyl hoá aripiprazole, và sự khử N-alkyl được xúc tác bởi CYP3A4. Aripiprazole là phần thuốc chiếm ưu thế trong tuần hoàn chung. Ở trạng thái ổn định, dehydro-aripiprazole, chất chuyển hoá có hoạt tính, đạt vào khoảng 40% của AUC của aripiprazole trong huyết tương.

    Khoảng 8% số người da trắng không có khả năng chuyển hoá các cơ chất của CYP2D6 và được xếp loại là những người chuyển hoá kém (PM), trong khi những người còn lại là những người chuyển hoá mạnh (EM). Những người chuyển hoá yếu có lượng aripiprazole tiếp xúc tăng khoảng 80% và lượng chất chuyển hoá có hoạt tính tiếp xúc giảm khoảng 30% so với những người chuyển hoá mạnh, dẫn tới tăng khoảng 60% sự tiếp xúc với toàn bộ các phần có hoạt tính từ một liều aripiprazole so với những người chuyển hoá mạnh. Việc dùng đồng thời Abilify với các chất ức chế CYP2D6 đã biết, như quinidin ở người chuyển hoá mạnh, dẫn đến tăng 112% sự tiếp xúc với aripiprazole trong huyết tương, và cần điều chỉnh liều dùng thuốc (xem Tương tác thuốc). Người chuyển hoá mạnh và người chuyển hoá kém có thời gian bán thải trung bình đối với aripiprazole tương ứng là 75 giờ và 146 giờ. Aripiprazole không ức chế hoặc gây cảm ứng quá trình của CYP2D6.

    Sau khi cho uống một liều aripiprazole có đánh dấu [14C], ghi nhận có khoảng 25% và 55% liều có đánh dấu phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và phân. Dưới 1% của aripiprazole không đổi được bài tiết trong nước tiểu và khoảng 18% liều uống được bài tiết qua phân dưới dạng hoạt chất không bị biến đổi.

    Các quần thể đặc biệt:

    Nói chung, không cần phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc, tình trạng hút thuốc, chức năng gan hoặc chức năng thận của bệnh nhân (xem Liều lượng và Cách dùng). Dược động học của aripiprazole ở các quần thể đặc biệt được mô tả dưới đây:

    Suy gan:

    Trong nghiên cứu một liều duy nhất (15mg aripiprazole), ở các đối tượng có xơ gan ở mức độ khác nhau (các loại A, B, C Child-Pugh), AUC của aripiprazole, so với đối tượng khoẻ mạnh, tăng 31% ở bệnh nhân suy gan nhẹ, tăng 8% ở bệnh nhân suy gan vừa, và giảm 20% ở bệnh nhân suy gan nặng. Không có sự khác nhau nào cần điều chỉnh liều.

    Suy thận:

    Ở bệnh nhân suy thận nặng (Clcr Người cao tuổi:

    Trong nghiên cứu dược động học liều duy nhất (với một liều aripiprazole 15mg, sự thanh lọc aripiprazole thấp hơn 20% ở người cao tuổi (≥65 tuổi) so với người lớn trẻ hơn (18 đến 64 tuổi). Tuy nhiên, không thấy có ảnh hưởng do tuổi trong phân tích dược động học theo quần thể ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Cũng vậy, dược động học của aripiprazole sau nhiều liều ở bệnh nhân cao tuổi được ghi nhận tương tự như ở người trẻ khoẻ mạnh. Không cần chỉnh liều đối với bệnh nhân cao tuổi.

    Giới tính:

    Cmax và AUC của aripiprazole và chất chuyển hoá có hoạt tính, dehydro-aripiprazole, cao hơn 30 đến 40% ở phụ nữ so với nam giới, và tương ứng, sự thanh thải đường uống biểu kiến của aripiprazole thấp hơn ở phụ nữ. Tuy vậy, những khác nhau này được giải thích phần lớn bởi sự khác nhau về thể trọng (khoảng 25%) giữa nam giới và phụ nữ. Không cần chỉnh liều theo giới tính.

    Chủng tộc:

    Mặc dù không có nghiên cứu dược động học riêng để khảo sát ảnh hưởng của chủng tộc trên sự phân bố của aripiprazole, nhưng nghiên cứu dược động học theo quần thể cho thấy không có sự khác nhau có liên quan với chủng tộc có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong dược động học của aripiprazole. Không cần chỉnh liều theo chủng tộc.

    Hút thuốc:

    Dựa trên các nghiên cứu dùng các enzym của gan người in vitro, aripiprazole không phải là chất nền của CYP1A2 và cũng không bị glucuronyl hoá trực tiếp. Do đó, việc hút thuốc không có ảnh hưởng trên dược động học của aripiprazole. Phù hợp với các kết quả in vitro này, việc nghiên cứu dược động học theo quần thể không phát hiện thấy sự khác nhau về dược động học nào có ý nghĩa giữa người hút thuốc và người không hút thuốc. Không cần chỉnh liều dựa trên tình trạng hút thuốc.

    Độc tính

    Độc tính trên động vật:

    Aripiprazole gây thoái hoá võng mạc ở chuột cống trong nghiên cứu độc tính trường diễn 26 tuần với liều 60 mg/kg/ngày và trong nghiên cứu gây ung thư kéo dài 2 năm với liều 40 và 60 ng/kg/ngày. Liều 40 và 60 mg/kg là gấp 13 và 19 lần liều tối đa dành cho người (MRHD) dựa vào mg/m2 và gấp 7 và 14 lần liều MRHD cho người dựa vào AUC.

    Đánh giá về tổn thương võng mạc ở khỉ và chuột nhắt không thấy có chứng cớ về thoái hoá võng mạc. Chưa tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá về cơ chế gây độc tính. Sự liên quan giữa kết quả này với nguy cơ ở người chưa được biết.

    An toàn tiền lâm sàng

    Gây ung thư:

    Nghiên cứu độc tính gây ung thư trên chuột nhắt và chuột cống. Dùng aripiprazole trong 2 năm, trộn lẫn vào thức ăn với các liều 1-3-10-30 mg/kg/ngày cho chuột nhắt và 1-3-10 mg/kg/ngày cho chuột cống [bằng 0,2 tới 5 lần và 0,3 tới 3 lần liều tối đa cho người (MRHD) dựa vào mg/m2]. Ngoài ra, chuột cống chủng SD thì cho uống trong 2 năm với liều 10-20-40-60 mg/kg/ngày (gấp 3 đến 19 lần MRHD dựa vào mg/m2). Aripiprazole không gây u ở chuột nhắt đực và chuột cống đực. Trên chuột nhắt cái, thấy có tăng tần số u tuyến yên và ung thư tuyến vú và u gai tuyến vú với liều hàng ngày 3-30 mg/kg (bằng 0,1 đến 0,9 lần MRHD dựa vào AUC và bằng 0,5 tới 5 lần MRHD dựa vào mg/m2). Trên chuột cống cái, tần số u xơ tuyến vú tăng lên với liều 10 mg/kg/ngày (bằng 0,1 lần MRHD dựa vào AUC và 3 lần MRHD dựa vào mg/m2), còn tần số ung thư biểu mô vỏ thượng thận và hỗn hợp u tuyến /ung thư biểu mô vỏ thượng thận tăng lên khi dùng liều uống 60 mg/kg/ngày (gấp 14 lần MRHD dựa vào AUC và 19 lẫn MRHD dựa vào mg/m2).

    Có gặp những thay đổi tăng sinh ở tuyến yên và tuyến vú của động vật gặm nhấm sau khi dùng dài ngày các thuốc tâm thần khác và coi như qua trung gian của prolactin. Prolactin huyết thanh không đo được trong các nghiên cứu về độc tính gây ung thư do aripiprazole. Tuy nhiên, có thấy tăng prolactin trong huyết thanh ở chuột nhắt cái trong nghiên cứu dùng thuốc trong 13 tuần với các liều gây u tuyến yên và tuyến vú. Prolactin – huyết thanh không tăng ở chuột cống cái trong nghiên cứu 4 và 13 tuần với các liều gây u tuyến vú. Chưa rõ sự liên quan với nguy cơ trên người về các u tuyến ở loài ngặm nhấm qua trung gian prolactin.

    Độc tính gây biến dị:

    Độc tính gây biến dị của aripiprazole được khảo sát qua thử nghiệm gây đột biến ngược in vitro ở vi khuẩn, thử nghiệm in vitro sự sửa chữa DNA vi khuẩn, thử nghiệm đột biến gen in vitro ở tế bào u lymphô bào của chuột nhắc, thử nghiệm in vitro về sai lạc nhiễm sắc thể ở tế bào phổi (CHL) của chuột hamster Trung Quốc, thử nghiệm nhân nhỏ trên chuột nhắt in vitro, thử nghiệm tổng hợp DNA không quy định thời hạn. Aripiprazole và chất chuyển hoá (2,3 – DCPP) làm tăng số sai lạc khi thử nghiệm in vitro các tế bào CHL khi không có mặt của sự hoạt hoá chuyển hoá. Có đáp ứng dương tính trong thử nghiệm in vitro nhân nhỏ ở chuột nhắt, tuy nhiên đáp ứng là do cơ chế không gặp ở người.

    Ảnh hưởng đến sự sinh sản:

    Chuột cống cái uống liều 2, 6 và 20 mg/kg/ngày (bằng 0,6, 2 và 6 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole 2 tuần trước khi giao hợp tới ngày thứ 7 của thai kỳ. Sự bất thường của chu kỳ động lực và tăng thể váng được thấy với mọi liều, nhưng không có ảnh hưởng tới sự sinh sản, sự tăng mất mát làm tổ của trứng được thấy với liều 6 và 20 mg/kg và giảm cân nặng của thai với liều 20mg/kg.

    Chuột cống được uống liều mỗi ngày 20-40-60 mg/kg (gấp 6-13-19 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole từ 9 tuần trước giao hợp tới khi giao hợp. Rối loạn sinh tinh trùng gặp ở liều 60 mg/kg và teo tuyến tiền liệt với liều 40 và 60 mg/kg, nhưng không thấy ảnh hưởng tới sự sinh sản.

    Tác dụng :

    Tâm thần phân liệt:

    Aripiprazole được chỉ định điều trị bệnh tâm thần phân liệt.

    Đã xác định hiệu quả của Aripiprazole trong bệnh tâm thần phân liệt khi sử dụng ngắn ngày (4 và 6 tuần) trong các thử nghiệm có kiểm soát các bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú. Aripiprazole có hiệu quả duy trì sự ổn định ở bệnh nhân tâm thần phân liệt đã được ổn định về mặt triệu chứng bởi các trị liệu chống loạn tâm thần khác trong thời gian 3 tháng hoặc lâu hơn, đã ngừng các trị liệu khác này, rồi dùng Aripiprazole với liều 15mg/ngày và được theo dõi về sự tái phát trong thời gian tối đa 26 tuần. Một nghiên cứu có kiểm chứng với placebo đã chứng minh hiệu quả này. Khi chỉ định Aripiprazole trong thời gian kéo dài cần định kỳ đánh giá lại hiệu quả dài hạn của thuốc đối với từng cá thể.

    Hưng cảm lưỡng cực:

    Aripiprazole được chỉ định điều trị cơn hưng cảm cấp và các giai đoạn pha lẫn của rối loạn lưỡng cực.

    Đã xác định hiệu quả của Aripiprazole qua 2 thử nghiệm có kiểm soát với giả dược (3 tuần) trên những bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực theo phân loại DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th edition), bị cơn hưng cảm cấp hay các giai đoạn pha lẫn của rối loạn lưỡng cực có hay không có các biểu hiện tâm thần. Tuy nhiên, hiệu lực của Aripiprazole khi sử dụng dài hạn trên 3 tuần trong điều trị cơn hưng cảm cấp hay để dự phòng còn chưa được xác định bằng thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Do đó, khi bác sĩ chọn sử dụng Aripiprazole dài hạn cần định kỳ đánh giá lại các nguy cơ và lợi ích của thuốc trên từng bệnh nhân.

    Chỉ định :

    Điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
    Điều trị các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong Rối loạn lưỡng cực I và để ngăn ngừa một giai đoạn hưng cảm mới ở những người trưởng thành trải qua giai đoạn hưng cảm chủ yếu và các giai đoạn hưng cảm đã đáp ứng với điều trị aripiprazole;

    Liều lượng – cách dùng:

    Tâm thần phân liệt:
    Liều thông thường:
     
    Liều khuyến cáo khởi đầu và liều đích là 10-15 mg/ngày, dùng một lần, không phụ thuộc bữa ăn. Thuốc đã được đánh giá một cách hệ thống và cho thấy thuốc có hiệu lực với các liều 10-30 mg/mgày, tuy nhiên, liều cao hơn 10-15 mg/ngày (là liều thấp nhất trong các thử nghiệm này) cũng không có hiệu lực hơn liều 10-15 mg/ngày. Không tăng liều trước 2 tuần vì đây là thời gian cần để đạt trạng thái ổn định. 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    Thường không cần thiết phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng suy gan thận. 
    Phối hợp aripiprazole với thuốc ức chế CYP3A4: 
    Khi phối hợp ketoconazole với aripiprazole cần phải giảm liều aripiprazole xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP3A4. 
    Phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6: 
    Khi phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6 ví dụ khi phối hợp với quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine với aripiprazole, thì cũng phải giảm liều aripiprazole ít nhất xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP2D6. 
    Phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4: 
    Khi phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4 ví dụ như phối hợp với carbamazepine thì cần dùng liều aripiprazole gấp đôi (tới 20-30mg). Việc tăng liều nên dựa theo đánh giá lâm sàng. Khi ngưng carbamazepine thì nên giảm liều aripiprazole xuống còn 10-15mg/ngày. 

    Điều trị duy trì: 
    Vì chưa có số liệu có giá trị về việc sử dụng aripiprazole dài hạn, việc đánh giá một cách hệ thống bệnh nhân tâm thần phân liệt đã ổn định về triệu chứng với các thuốc chống loạn thần khác trong thời gian ≥3 tháng, đã ngừng các thuốc đó và sau đó dùng Aripiprazole 15mg/ngày và được theo dõi tái phát trong thời gian 26 tuần, cho thấy điều trị duy trì như thế là có lợi. Cần định kỳ đánh giá lại để xác định nhu cầu điều trị duy trì. 

    Chuyển đổi từ các thuốc chống loạn thần khác: 
    Chưa có dữ liệu được thu thập có hệ thống về việc chuyển bệnh nhân tâm thần phân liệt đã dùng thuốc tâm thần khác sang Aripiprazole hoặc về việc phối hợp Aripiprazole với các thuốc tâm thần khác. Việc ngừng đột ngột thuốc tâm thần dùng trước đó mặc dù có thể chấp nhận được ở một số bệnh nhân tâm thần phân liệt, tuy nhiên với các bệnh nhân khác thì ngưng từ từ có thể thích hợp hơn. Trong mọi trường hợp, thời kỳ giao nhau giữa các thuốc nên được giảm xuống tối thiểu. 
    Hưng cảm lưỡng cực: 
    Liều thông thường: 
    Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều khởi đầu là 30mg ngày 1 lần. Liều 30mg/ngày được thấy là có hiệu quả khi dùng dưới dạng viên. Khoảng 15% bệnh nhân được giảm liều xuống 15mg dựa vào mức độ dung nạp. Tính an toàn của các liều cao hơn 30mg/ngày hiện chưa được đánh giá qua thử nghiệm lâm sàng. 
    Liều duy trì: 
    Hiện chưa có số liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát để đưa ra khuyến cáo về liều lượng khi sử dụng dài hạn cho bệnh nhân đã có cải thiện sau khi điều trị cơn cấp tính với aripriprazole. Mặc dù việc tiếp tục điều trị sau khi cơn cấp tính có đáp ứng là cần thiết, nhằm duy trì đáp ứng lúc đầu và ngăn ngừa tái phát cơn hưng cảm cấp tính, hiện chưa có dữ liệu có hệ thống ủng hộ việc sử dụng aripriprazole trong điều trị dài hạn như thế (dùng quá 3 tuần). 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    xem Liều ở các đối tượng đặc biệt trong Liều lượng và Cách dùng: Tâm thần phân liệt. 
    Quá liều 
    Chất kiểm tra: Aripiprazole (aripiprazole) không phải là chất để kiểm tra.
    Lạm dụng và lệ thuộc thuốc: 
    Chưa có nghiên cứu có hệ thống ở người về khả năng gây lạm dụng, lệ thuộc thuốc hoặc dung nạp thuốc của aripiprazole. Nghiên cứu trên khỉ về lệ thuộc thuốc, thấy có triệu chứng cai khi ngừng thuốc đột ngột. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng chưa cho thấy có khuynh hướng nào về thái độ lệ thuộc thuốc, các nhận xét trên chưa có hệ thống và không thể dùng để làm cơ sở kinh nghiệm, vì các thuốc tác động trên thần kinh trung ương có thể bị lạm dụng một khi đưa ra thị trường. 
    Vì vậy, bệnh nhân cần được đánh giá rất cẩn thận về tiền sử lạm dụng thuốc và những bệnh nhân như thế cần được theo dõi tỉ mỉ các dấu hiệu lạm dụng hoặc dùng sai Aripiprazole (ví dụ: tăng dung nạp, tăng liều, thái độ lệ thuộc thuốc).

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn cảm với thành phần của thuốc.

    Tác dụng phụ

    Độ an toàn của aripiprazole đã được đánh giá trên 7951 bệnh nhân dùng nhiều liều trong các thử nghiệm trước khi đưa ra thị trường ở người tâm thần phân liệt, cơn hưng cảm lưỡng cực và sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Tổng cộng 2280 người dùng aripiprazole được điều trị ít nhất 180 ngày và 1558 người dùng thuốc này đã dùng thuốc ít nhất 1 năm.

    Các điều kiện và thời gian điều trị với aripiprazole bao gồm mù kép, nghiên cứu mở có và không có so sánh, nghiên cứu ở bệnh nhân nội trú và ngoại trú, với các liều cố định và linh động, nghiên cứu ngắn hạn và dài hạn. Đã thu thập các tác dụng phụ qua bệnh nhân báo cáo, cũng như từ kết quả khám nghiệm bệnh nhân, dấu hiệu sống, cân nặng, phân tích labô, điện tâm đồ.

    Trong các bảng tổng kết tác dụng phụ dưới đây, các nhà nghiên cứu lâm sàng đã sử dụng từ điển danh pháp Costart cải tiến, nhằm phân loại các tác dụng phụ vào những nhóm nhỏ, với mục đích cung cấp những ước lượng có ý nghĩa về tỉ lệ các cá nhân có tác dụng phụ của thuốc.

    Tần suất các tác dụng phụ biểu hiện tỷ lệ các cá thể có ít nhất một hiện tượng có hại gặp khi điều trị đã được liệt kê trong danh mục. Một hiện tượng được xem là do điều trị khi nó xảy ra lần đầu hoặc xấu đi trong khi được điều trị.

    Bác sĩ cần lưu ý là những số liệu trong các bảng sau không thể dùng để dự đoán tần suất các tác dụng phụ trong thực hành hàng ngày do có sự khác biệt giữa bệnh nhân đang được điều trị và những bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn tùy thuộc vào cách điều trị, cách dùng thuốc và người nghiên cứu. Tuy nhiên, các số liệu dưới đây cũng có thể cung cấp một cơ sở để đánh giá về ảnh hưởng tương đối của thuốc và các yếu tố khác không phải thuốc vào tần suất của các tác dụng phụ ở quần thể nghiên cứu.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào 5 cuộc thử nghiệm có kiểm soát placebo (4 thử nghiệm 4 tuần và 1 thử nghiệm 6 tuần) mà aripiprazole được dùng với liều 2-30 mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (7%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương tự giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào một thử nghiệm 3 tuần có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực trong đó aripriprazole được sử dụng ở liều 15 hay 30mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (11%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương đương giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Những tác dụng phụ thường quan sát được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ thường quan sát được có liên quan đến việc dùng aripriprazole ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực (tần suất ≥5% và tần suất của nhóm aripriprazole ìt nhất là gấp đôi của nhóm placebo) được liệt kê ở Bảng 1. Không có tác dụng phụ nào trong thử nghiệm ngắn hạn của bệnh tâm thần phân liệt đáp ứng các tiêu chuẩn này.

    Bảng 1. Các tác dụng phụ thường gặp trong thử nghiệm ngắn hạn có kiểm soát placebo ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    % bệnh nhân báo cáo có tác dụng phụ

    Tác dụng phụ Aripriprazole Placebo

    (n=597) (n=436)

    Tổn thương ngẫu nhiên 6 3

    Táo bón 13 6

    Nằm ngồi không yên 15 4

    Tác dụng phụ do liều lượng:

    Tâm thần phân liệt:

    Sự liên quan giữa đáp ứng với liều về tần suất các tác dụng phụ do dùng thuốc đã được đánh giá trong 4 thử nghiệm trên bệnh nhân tâm thần phân liệt so sánh các liều cố định (2-10-15-20 và 30mg/ ngày) của aripiprazole so với placebo. Phân tích cho thấy chỉ có một tác dụng phụ là có thể liên quan tới đáp ứng liều lượng và chỉ nổi bật với liều 30mg, đó là buồn ngủ (placebo: 7,7%; 15mg: 8,7%; 20mg: 7,5%; 30mg: 15,3%).

    Triệu chứng ngoại tháp (EPS):

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, tần suất các EPS ở người dùng aripiprazole là 6% so với ở placebo là 6%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất các tác dụng phụ liên quan đến EPS, ngoại trừ chứng nằm ngồi không yên, ở người dùng aripiprazole là 17% so với ở placebo là 12%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất bị chứng nằm ngồi không yên ở người dùng aripriprazole là 15% so với ở placebo là 4%. Các dữ liệu khách quan thu thập được trong các thử nghiệm này dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barmes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assessments of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) cũng không cho thấy sự khác biệt giữa aripiprazole với placebo, ngoại trừ thang điểm Barmes Akathisia Scale (aripiprazole: 0,08; placebo: -0,05).

    Tương tự, trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, các dữ liệu khách quan thu thập được dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barnes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assesment of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) không cho thấy có khác biệt giữa aripiprazole và placebo.

    Bất thường về các thử nghiệm trong labô:

    So sánh giữa 2 nhóm trong 3-6 tuần trong các thử nghiệm có kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa nhóm dùng thuốc và nhóm placebo về tỷ lệ các bệnh nhân có những thay đổi đáng kể về phương diện lâm sàng trong các thông số thường quy về hoá sinh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu. Đồng thời, không có khác biệt giữa aripiprazole với placebo về tỷ lệ ngừng thuốc do thay đổi về hoá sinh huyết thanh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu.

    Trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần), có kiểm soát placebo, không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa 2 nhóm dùng aripiprazole và placebo về sự thay đổi trung bình so với mức cơ bản của prolactin, glucose-máu khi đói, triglyceride, HDL-C, LDL-C và cholesterol toàn phần trong máu.

    Tăng thể trọng:

    Trong thử nghiệm ngắn ngày 4-6 tuần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, chỉ có khác biệt nhỏ về tăng thể trọng trung bình giữa nhóm aripiprazole và nhóm placebo (+0,7kg so với -0,05kg) và cũng có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng (ở nhóm dùng thuốc là 8% so với nhóm placebo 3%). Trong thử nghiệm ngắn ngày 3 tuần trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tăng cân trung bình của nhóm dùng aripriprazole là 0,0kg so với -0,2kg ở nhóm dùng placebo. Tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng là 3% ở nhóm dùng aripriprazole so với ở nhóm dùng placebo là 2%.

    Bảng 3 cung cấp các kết quả về thay đổi thể trọng khi dùng thuốc dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, cả sự thay đổi trung bình so với mức độ cơ bản và tỷ lệ các bệnh nhân tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng so với mức cơ bản, dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI) ở mức cơ bản:

    Thay đổi về điện tâm đồ:

    So sánh giữa các nhóm trong các thử nghiệm kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt rõ rệt giữa các nhóm aripiprazole và placebo về tỷ lệ bệnh nhân có thay đổi quan trọng về các thông số điện tâm đồ; trong thực tế, giữa khoảng liều 10-30mg/ngày, thấy aripiprazole có khuynh hướng làm ngắn đoạn QT. Aripiprazole làm tăng nhịp tim (trung bình 4 nhịp/phút) so với 1 nhịp/phút ở nhóm placebo.

    Những ghi nhận thêm khi thử nghiệm lâm sàng:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm dài ngày, mù kép, có kiểm soát placebo:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm 26 tuần, mù kép, so sánh Aripiprazole với placebo thường phù hợp với các hiện tượng thường gặp ở các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo, trừ tần suất cao hơn về run [9% (13/153) với Aripiprazole so với 1% (2/153) ở placebo]. Trong nghiên cứu này, phần lớn các trường hợp run có cường độ thấp (9/13 nhẹ và 4/13 trung bình), xảy ra sớm khi điều trị (9/13 trong ≤49 ngày) và cũng không tồn tại lâu (9/13 ≤10 ngày). Run ít khi phải ngừng thuốc (Các tác dụng phụ khác trong khi đánh giá aripiprazole trước khi đưa ra thị trường:

    Cần lưu ý là mặc dầu các hiện tượng được báo cáo trong khi điều trị với aripiprazole cũng không nhất thiết là do thuốc này gây nên. Các hiện tượng được nêu theo hệ cơ quan và sắp xếp theo tần số giảm dần dựa theo các định nghĩa sau: các hiện tượng có hại hay gặp là ở ít nhất 1% bệnh nhân; các hiện tượng ít gặp là ở từ 1% đến 0,1% bệnh nhân; các hiện tượng hiếm gặp xảy ra cho ít hơn 1/1000 bệnh nhân.

    Toàn cơ thể:

    Hay gặp: hội chứng giống cúm, đau ngực, cứng cổ, cứng đầu chi, đau cổ, đau vùng chậu.

    Ít gặp: phù mặt, ý tưởng tự vẫn, khó ở, nhức nửa đầu, ớn lạnh, nhạy cảm ánh sáng, cảm giác căng cứng (ở bụng, ngực, lưng, đầu chi, đầu, hàm, cổ, lưỡi) đau hàm, đầy bụng, căng bụng, căng ngực, đau họng.

    Hiếm: moniliase, nặng đầu, sưng họng, hội chứng Mendelson, đột qụy.

    Hệ tim mạch:

    Hay gặp: nhịp tim nhanh (bao gồm nhịp nhanh thất và trên thất), hạ huyết áp, nhịp tim chậm.

    Ít gặp: đánh trống ngực, chảy máu, suy tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim, rung nhĩ, blốc nhĩ thất, kéo dài đoạn QT, ngoại tâm thu, thiếu máu cục bộ cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực, xanh xao, ngưng tim ngưng thở, viêm tĩnh mạch.

    Hiếm: blốc nhánh, cuồng động nhĩ, tim to, viêm tĩnh mạch huyết khối, suy tim – hô hấp.

    Hệ tiêu hoá:

    Hay gặp: buồn nôn, nôn.

    Ít gặp: tăng thèm ăn, nuốt khó, viêm dạ dày – ruột, đầy bụng, sâu răng, viêm dạ dày, viêm lợi, xuất huyết tiêu hóa, trĩ, trào ngược dạ dày – thực quản, áp xe quanh răng, đại tiện không kiềm chế được, chảy máu trực tràng, viêm miệng, viêm ruột kết, phù lưỡi, viêm túi mật, loét miệng, moniliase miệng, ợ hơi, chèn ép phân.

    Hiếm: viêm thực quản, ói máu, tắc ruột, chảy máu lợi, viêm gan, loét đường tiêu hóa, viêm lưỡi, tiêu ra máu, loét tá tràng, viêm môi, gan to, viêm tụy.

    Hệ nội tiết:

    Ít gặp: suy giáp.

    Hiếm: bướu giáp, cường giáp.

    Hệ máu / Bạch huyết:

    Hay gặp: bầm máu, thiếu máu.

    Ít gặp: thiếu máu nhược sắc, tăng bạch cầu, giảm bạch cầu (kể cả giảm bạch cầu trung tính), bệnh hạch bạch huyết, tăng bạch cầu ưa eosin, thiếu máu đại hồng cầu.

    Hiếm: giảm tiểu cầu, tăng tạo tiểu cầu, đốm xuất huyết.

    Rối loạn chuyển hoá / dinh dưỡng:

    Hay gặp: giảm cân, tăng creatin – phosphokinase, mất nước.

    Ít gặp: phù, tăng đường huyết, tăng cholesterol máu, giảm kali máu, đái tháo đường, hạ đường huyết, tăng lipid máu, tăng SGPT, khát, tăng BUN, hạ natri máu, tăng SGOT, tăng creatinin, tím xanh, tăng phosphatase kiềm, bilirubin máu, thiếu máu thiếu sắt, tăng kali máu, tăng acid uric máu, béo phì.

    Hiếm: tăng lactic-delydrogenase, tăng natri máu, gút, phản ứng hạ đường huyết.

    Hệ cơ xương:

    Hay gặp: Chuột rút.

    Ít gặp: đau khớp, nhược cơ, bệnh khớp, đau xương, viêm khớp, yếu cơ, co thắt cơ, viêm túi thanh mạc, bệnh cơ.

    Hiếm: viêm khớp dạng thấp, tiêu cơ vân, viêm gân, viêm bao hoạt dịch.

    Hệ thần kinh:

    Hay gặp: trầm cảm, kích động, phản ứng tâm thần phân liệt, ảo giác, chống đối, lẫn lộn, phản ứng hoang tưởng, ý tưởng tự vẫn, dáng đi bất thường, phản ứng hưng cảm, giấc mơ bất thường.

    Ít gặp: cảm xúc thất thường, co giật, co cứng các chi, mất tập trung, rối loạn trương lực, giãn mạch, dị cảm, bất lực, run chân tay, giảm cảm giác, chóng mặt, trạng thái ngẩn ngơ, vận động chậm, lãnh đạm, tấn công hoảng loạn, giảm dục năng, ngủ nhiều, rối loạn vận động, phản ứng hưng cảm-trầm cảm, thất điều, ảo giác về thị giác, tai biến mạch não, vận động chậm chạp, mất nhân cách, mất trí nhớ, mê sảng, loạn vận ngôn, rối loạn vận động muộn, hay quên, tăng dục năng, máy cơ, bồn chồn không yên, bệnh thần kinh, cảm giác khó chịu, tăng động, thiếu máu cục bộ não, tăng phản xạ, mất vận động, giảm nhận thức, tăng cảm giác, suy nghĩ chậm chạp.

    Hiếm: cảm giác cùn mòn, sảng khoái, mất điều hoà động tác, cơn tăng vận nhãn, bị ám ảnh, giảm trương lực, hội chứng miệng-hầu, giảm phản xạ, mất thực tế, chảy máu trong sọ.

    Hệ hô hấp:

    Hay gặp: viêm xoang, khó thở, viêm phổi, hen.

    Ít gặp: chảy máu cam, nấc, viêm thanh quản, viêm phổi do hít.

    Hiếm: phù phổi, tăng tiết đờm, tắc mạch phổi, thiếu oxy, suy hô hấp, ngừng thở, khô mũi, ho ra máu.

    Da và phần phụ da:

    Hay gặp: loét da, chảy mồ hôi, da khô.

    Ít gặp: ngứa, phát ban phù nhú, trứng cá, chàm, mất màu da, rụng tóc, tăng tiết bã nhờn, vảy nến.

    Hiếm: ban sần, viêm da tróc vảy, mày đay.

    Giác quan:

    Hay gặp: viêm kết mạc.

    Ít gặp: đau tai, khô mắt, đau mắt, ù tai, cườm mắt, viêm tai giữa, giảm vị giác, viêm mi mắt, chảy máu mắt, điếc.

    Hiếm: nhìn đôi, hay nháy mắt, sa mí mắt, viêm tai ngoài, giảm thị lực, sợ ánh sáng.

    Hệ tiết niệu:

    Hay gặp: đái không kìm được.

    Ít gặp: hay tiểu tiện, khí hư, bí tiểu, viêm bàng quang, đái ra máu, tiểu khó, mất kinh, chảy máu âm đạo, xuất tinh bất thường, suy thận, moniliase âm đạo, bệnh thận, vú to ở đàn ông, sỏi thận, albumin niệu, đau vú, tiểu đau.

    Hiếm: đái đêm, tiểu nhiều, rong kinh, không đạt cực khoái khi hoạt động tình dục, đường niệu, viêm cổ tử cung, chãy máu tử cung, chảy sữa ở nữ, sỏi niệu, cương đau dương vật.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Armbalin 150

    Thuốc Armbalin 150

    Armbalin 150

    Armbalin 150
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nang cứng
    Đóng gói:Hộp 10 vỉ x 10 viên. Chai 100 viên

    Thành phần:

    Pregabalin 150mg
    SĐK:VD-33237-19
    Nhà sản xuất: Chi nhánh công ty cổ phần Armephaco- Xí nghiệp dược phẩm 150 – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Chi nhánh công ty cổ phần Armephaco- Xí nghiệp dược phẩm 150
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị đau thần kinh có liên quan tới biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường.
    Điều trị đau thần kinh sau zona.
    Liệu pháp bổ trợ cho bệnh nhân người lớn có cơn động kinh khởi phát một phần.
    Điều trị đau xơ cơ.
    Điều trị đau thần kinh liên quan tới chấn thương tủy sống.

    Liều lượng – Cách dùng

    Cách dùng
    Pregabalin được uống không phụ thuộc vào bữa ăn. Không nên ngừng thuốc đột ngột.

    Liều dùng
    Đau thần kinh có liên quan tới biến chứng thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường
    Liều tối đa được khuyến cáo là 100mg x 3 lần/ ngày (300mg/ ngày) ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ít nhất 60mL / phút. Bắt đầu dùng thuốc 50mg x 3 lần/ ngày (150mg/ ngày). Liều có thể tăng đến 300mg/ ngày trong vòng 1 tuần dựa trên hiệu quả của thuốc và khả năng dung nạp của cơ thể. Vì Pregabalin được thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có chức năng thận giảm. Liều trên 300mg / ngày không được khuyến cáo.
    Đau thần kinh sau zona
    Liều khuyến cáo là 75-150mg x 2 lần/ ngày, hoặc 50-100mg x 3 lần/ ngày (150-300mg/ ngày) ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ít nhất 60mL / phút. Bắt đầu dùng thuốc ở liều 75mg x 2 lần/ ngày, hoặc 50mg x 3 lần/ ngày (150mg/ ngày). Liều có thể tăng đến 300mg/ ngày trong vòng 1 tuần dựa trên hiệu quả và khả năng dung nạp. Vì Pregabalin được thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có chức năng thận giảm. Nếu bệnh nhân không giảm đau sau 2-4 tuần điều trị với liều 300mg/ ngày và có thể chịu được liều cao hơn, có thể tăng liều lên 300mg x 2 lần/ ngày, hoặc 200mg x 3 lần/ ngày (600mg/ ngày).
    Điều trị bổ trợ cho người lớn có cơn động kinh khởi phát một phần
    Liều Pregabalin 150-600mg/ ngày đã được chứng minh là có hiệu quả như một liệu pháp bổ trợ trong điều trị động kinh khởi phát một phần ở người lớn. Hiệu quả và tác dụng phụ của Pregabalin đã được chứng minh là có liên quan đến liều. Nên chia tổng liều hàng ngày làm 2-3 lần dùng. Tổng liều hàng ngày nên bắt đầu ở mức không lớn hơn 150mg/ ngày (75mg x 2 lần/ ngày, hoặc 50mg x 3 lần/ ngày). Dựa trên phản ứng của từng bệnh nhân và khả năng dung nạp, liều có thể được tăng đến liều tối đa 600mg/ ngày. Vì Pregabalin được thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có chức năng thận giảm.
    Đau xơ cơ
    Liều khuyến cáo của Pregabalin cho đau xơ cơ là 300-450mg/ ngày. Bắt đầu dùng thuốc ở liều 75mg x 2 lần/ ngày (150mg/ ngày). Liều có thể tăng lên 150mg x 2 lần/ ngày (300mg/ ngày) trong vòng 1 tuần dựa trên hiệu quả và khả năng dung nạp. Những bệnh nhân không đạt hiệu quả điều trị với liều 300mg/ ngày có thể được tăng liều đến 225mg x 2 lần/ ngày (450mg/ ngày). Liều trên 450mg/ ngày không được khuyến cáo. Vì Pregabalin được thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có chức năng thận giảm.
    Đau thần kinh kết hợp với chấn thương tủy sống
    Khoảng liều khuyến cáo của Pregabalin là 150-600mg/ ngày. Liều khởi đầu khuyến cáo là 75mg x 2 lần/ ngày (150mg/ ngày). Liều có thể tăng lên 150mg x 2 lần/ ngày (300mg/ ngày) trong vòng 1 tuần dựa trên hiệu quả và khả năng dung nạp. Những bệnh nhân không đạt hiệu quả điều trị sau 2-3 tuần với liều 150mg x 2 lần/ ngày và chịu được liều Pregabalin cao hơn có thể tăng liều đến 300mg x 2 lần/ ngày. Vì Pregabalin được thải trừ chủ yếu qua thận, cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân có chức năng thận giảm.
    Làm gì khi dùng quá liều?
    Nếu nạn nhân hôn mê hoặc không thở được, cần gọi cấp cứu ngay lập tức.
    Làm gì nếu quên 1 liều?
    Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy dùng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Lưu ý rằng không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.

    Chống chỉ định:

    Mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc

    Tương tác thuốc:

    Thuốc cảm lạnh hoặc dị ứng, thuốc an thần, thuốc giảm đau có chất gây mê, thuốc ngủ, thuốc giãn cơ, thuốc trầm cảm hoặc lo âu có thể tăng tác dụng phụ gây chóng mặt hoặc buồn ngủ của Pregabalin.

    Báo cho bác sĩ về tất cả các loại thuốc khác sử dụng, đặc biệt là: Rosiglitazone (Avandia, Avandamet, Avandaryl), thuốc tim, huyết áp như benazepril (Lotensin), (Vasotec), enalapril lisinopril (Prinivil, Zestril), quinapril (Accupril), ramipril (Altace) và những loại khác.

    Tác dụng phụ:

    Mệt mỏi, hoa mắt, đau đầu, khô miệng, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi, thay đổi tâm trạng, có vấn đề về ngôn ngữ, khó tập trung hay chú ý, nhầm lẫn, khó ghi nhớ, hay quên, lo lắng, thiếu sự phối hợp, mất thăng bằng hay đứng không vững, không kiểm soát được chuyển động của một bộ phận cơ thể, co giật cơ bắp, yếu ớt, tăng sự thèm ăn, tăng cân, sưng tay, bàn tay, bàn chân, mắt cá chân hoặc cẳng chân, đau lưng.

    Một số tác dụng phụ có thể nghiêm trọng như nhìn mờ, nhìn đôi hoặc các thay đổi khác trong thị lực, nổi mề đay, phát ban, ngứa, rộp da, sưng mắt, mặt, cổ họng, miệng, môi, nướu răng, lưỡi, đầu và cổ, khó thở, thở khò khè, đau cơ đi kèm sốt, tức ngực, Nếu bạn bị tiểu đường, bạn nên biết rằng pregabalin đã gây ra lở loét da ở động vật.

    Quan sát da khi dùng pregabalin và nói với bác sĩ nếu có bất cứ vết loét, mẩn đỏ, hay vấn đề nào về da.

    Pregabalin có thể gây ra các tác dụng phụ khác. Gọi cho bác sĩ nếu bạn có bất kỳ vấn đề bất thường nào khi dùng thuốc.

    Chú ý đề phòng:

    Bệnh nhân suy thận, đái tháo đường, có bệnh lý tim mạch, có yếu tố có thể thúc đẩy xuất hiện bệnh não, lớn tuổi.

    Nếu cần, ngừng thuốc từ từ trong tối thiểu 1 tuần.

    Trẻ em Ngừng dùng ngay khi xuất hiện các triệu chứng của phù mạch.

    Kiểm soát các dấu hiệu ý định và hành vi tự tử, tình trạng lạm dụng thuốc.

    Phụ nữ có thai (không nên sử dụng, trừ khi thật sự cần), cho con bú (không cho con bú trong quá trình điều trị).

    Khi lái xe, vận hành máy móc

    Thông tin thành phần Pregabalin

    Chỉ định :

    Điều trị đau thần kinh nguồn gốc trung ương và ngoại vi, rối loạn lo âu lan tỏa ở người lớn. Điều trị bổ trợ động kinh cục bộ kèm hoặc không kèm động kinh toàn thể ở người lớn.

    Liều lượng – cách dùng:

    150-600 mg/ngày chia 2 hoặc 3 lần. Đau nguồn gốc thần kinh: khởi đầu 150 mg/ngày chia 2 hoặc 3 lần, sau 3-7 ngày có thể tăng đến 300 mg/ngày tùy dung nạp và đáp ứng, nếu cần tăng đến liều tối đa 600 mg sau 7 ngày tiếp theo. Động kinh: khởi đầu 150 mg chia 2 hoặc 3 lần, sau 1 tuần có thể tăng đến 300 mg/ngày tùy dung nạp và đáp ứng, có thể tăng đến liều tối đa 600 mg sau 1 tuần tiếp theo. Rối loạn lo âu lan tỏa: bắt đầu 150 mg/ngày, sau 1 tuần có thể tăng đến 300 mg/ngày tùy dung nạp và đáp ứng, có thể tăng đến 450 mg và tối đa 600 mg/ngày sau mỗi khoảng thời gian 1 tuần tiếp theo. Việc điều trị tiếp theo cần được đánh giá lại.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn với thành phần thuốc.

    Tác dụng phụ

    Chóng mặt, buồn ngủ. Tăng cảm giác ngon miệng. Tâm trạng phấn khích, nhầm lẫn, dễ bị kích thích, giảm ham muốn tình dục, mất phương hướng, mất ngủ. Mất điều hòa, phối hợp bất thường, run, loạn vận ngôn, suy giảm trí nhớ, rối loạn khả năng tập trung, dị cảm, an thần, rối loạn cân bằng, lơ mơ, đau đầu. Nhìn mờ, nhìn đôi. Rối loạn tiền đình. Nôn, khô miệng, táo bón, đầy hơi. Rối loạn chức năng cương dương. Dáng đi bất thường, cảm giác say rượu, mệt mỏi, phù ngoại vi, phù nề. Tăng cân. Hội chứng cai thuốc.

    Phân loại (US)/thai kỳ

    Mức độ C: Các nghiên cứu trên động vật phát hiện các tác dụng phụ trên thai (gây quái thai hoặc thai chết hoặc các tác động khác) và không có các nghiên cứu kiểm chứng trên phụ nữ; hoặc chưa có các nghiên cứu trên phụ nữ hoặc trên động vật. Chỉ nên sử dụng các thuốc này khi lợi ích mang lại cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Aurasert 100

    Thuốc Aurasert 100

    Aurasert 100

    Aurasert 100
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 14 viên

    Thành phần:

    Sertralin (dưới dạng Sertralin hydroclorid) 100mg
    SĐK:VN-22286-19
    Nhà sản xuất: Aurobindo Pharma., Ltd – ẤN ĐỘ
    Nhà đăng ký: Aurobindo Pharma., Ltd
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Bệnh trầm cảm nặng.

    – Rối loạn xung lực cưỡng bức ám ảnh, rối loạn hoảng sợ.

    Liều lượng – Cách dùng

    Uống: 50mg/ngày. Chuẩn liều tăng lên từng nấc 50 mg với khoảng cách ít nhất 1 tuần đến tối đa 200 mg/ngày.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần thuốc.

    Tương tác thuốc:

    – Không dùng thuốc với rượu.

    – Thuốc ức chế TKTW khác.

    Tác dụng phụ:

    Buồn nôn, tiêu chảy, khô miệng, nhức đầu, mất ngủ, chóng mặt, run rẩy & buồn ngủ.

    Chú ý đề phòng:

    – Người lớn tuổi, người suy gan hoặc suy thận, lái xe & vận hành máy móc.

    – Người động kinh không ổn định: tránh dùng.

    Thông tin thành phần Sertraline

    Dược lực:

    Sertraline là một chất ức chế mạnh và đặc hiệu sự thu hồi senotonin (5-HT) ở đầu sợi thần kinh.

    Dược động học :

    – Hấp thu: Sertraline có các đặc tính dược động học phụ thuộc theo liều trong khoảng từ 50 đến 200mg ở người, sau khi uống liều một lần hàng ngày trong khoảng từ 50 đến 200mg trong 14 ngày, nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) của sertraline xuất hiện trong khoảng 4,5 đến 8,4 giờ sau khi uống. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng sertraline có thể tích phân bố lớn. Các đặc tính về dược động học của sertraline ở các bệnh nhân nhi khoa bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh đã được chứng minh là tương tự như ở người lớn (mặc dù, các bệnh nhân nhi khoa sử dụng sertraline có hiệu quả lớn hơn một chút). Tuy nhiên người ta khuyên nên hạ thấp liều ở các bệnh nhân nhi khoa mà có trọng lượng cơ thể thấp (đặc biệt những bệnh nhân nhi từ 6-12 tuổi) để tránh nồng độ quá cao trong huyết tương.

    – Chuyển hoá: Sertraline bị chuyển hoá phần lớn trong pha đầu ở gan. Chất chuyển hoá chính trong huyết tương là N-desmethylsertraline, một chất ít hoạt tính hơn đáng kể (khoảng 20 lần) so với sertraline trên in vitro, tuy nhiên, chưa có thử nghiệm về hoạt tính trên mô hình in vivo ở các bệnh nhân bị trầm cảm.

    – Thải trừ: Thời gian bán thải của N-desmethylsertraline nằm trong khoảng 62-104 giờ. Sertraline và N-desmethylsertraline đều bị chuyển hoá phần lớn ở trong cơ thể người và cho ra các chất chuyển hoá được đào thải qua phân và qua nước tiểu với một tỷ lệ như nhau. Chỉ có một lượng nhỏ (

    Tác dụng :

    Trên in vitro, Sertraline là chất ức chế mạnh và đặc hiệu sự thu hồi senotonin (5-HT) ở đầu sợi thần kinh dẫn đến sự tăng cường tác dụng của 5-HT ở động vật. Nó chỉ có tác dụng rất yếu trên việc thu hồi norepinephrine và dopamin ở các đầu sợi thần kinh. Ở các liều lâm sàng, sertraline ức chế sự thu hồi senotonin vào trong các tiểu cầu ở người. Nó không có tác dụng kích thích, an thần hay tác dụng kháng cholinergic hay gây độc trên tim ở động vật. Các nghiên cứu có kiểm chứng ở những người tình nguyện bình thường cho thấy rằng sertraline không có tác dụng an thần và không làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động tâm thần. Nhờ tác dụng ức chế chọn lọc sự thu hồi 5-HT, sertraline không tăng cường hoạt tính của hệ catecholaminergic. Sertraline không có ái lực với các thụ thể hệ muscarinic (hệ cholinergic), serotonergic, dopaminergic, adrenergic, histaminergic, GABA hay benzodiazepine. Dùng lâu dài sertraline ở động vật có liên quan đến việc điều chỉnh giảm các thụ thể norepinephrine ở não cũng như thường gặp phải ở các thuốc chống trầm cảm và chống ám ảnh có hiệu quả lâm sàng khác.

    Không giống như các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, người ta không thấy có hiện tượng tăng cân trong các nghiên cứu lâm sàng, có kiểm chứng, điều trị sertraline cho các bệnh nhân trầm cảm hoặc rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD), thậm chí có một vài bệnh nhân còn giảm sút cân khi điều trị bằng sertraline.

    Sertraline đã chứng tỏ là không có khả năng gây lạm dụng thuốc.

    Chỉ định :

    Ðiều trị triệu chứng bệnh trầm cảm, bao gồm trầm cảm đi kèm bởi các triệu chứng lo âu, ở các bệnh nhân có hay không có tiền sử chứng hưng cảm. Sau khi có những đáp ứng tốt, việc tiếp tục điều trị với sertraline mang lại hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự khởi phát lại của bệnh trầm cảm hoặc sự tái phát các giai đoạn trầm cảm tiếp theo.

    Ðiều trị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD). Tiếp theo sự đáp ứng ban đầu, sertraline duy trì hiệu quả kéo dài, an toàn và độ dung nạp tốt trong quá trình điều trị kéo dài đến 2 năm rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD).

    Ðiều trị các bệnh nhân nhi khoa bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD).

    Ðiều trị rối loạn hoảng loạn, có hay không có chứng sợ khoảng rộng.

    Ðiều trị rối loạn stress sau chấn thương (PTSD).

    Liều lượng – cách dùng:

    Sertraline nên được dùng 1 lần mỗi ngày, vào buổi sáng hoặc buổi tối.

    Sertraline có thể được dùng cùng hay không cùng với thức ăn.

    Ðiều trị ban đầu:

    Trầm cảm và rối loạn cưỡng bức ám ảnh: liều khuyến cáo là 50mg/ngày.

    Rối loạn hoảng loạn và rối loạn stress sau chấn thương: nên được bắt đầu điều trị với liều 25mg/ngày. Sau một tuần, liều trên nên được tăng lên đến 50mg 1 lần mỗi ngày. Liều dùng này đã được chứng minh là giảm được tần suất các tác dụng phụ cấp tính khi khởi đầu điều trị, là đặc trưng của chứng rối loạn hoảng sợ.

    Chuẩn liều:

    Trầm cảm rối loạn xung lực cưỡng bức ám ảnh, rối loạn hoảng sợ và rối loạn căng thẳng sau chấn thương:

    Các bệnh nhân mà không đáp ứng với liều 50mg có thể thu được kết quả tốt khi tăng liều điều trị. Sự thay đổi liều nên được tiến hành với khoảng cách ít nhất là 1 tuần, có thể tăng lên đến mức tối đa 200mg/ngày. Sertraline có thời gian bán thải 24 giờ, mọi sự thay đổi về liều lượng không nên tiến hành với khoảng cách ít hơn 1 tuần.

    Tác dụng khởi đầu điều trị có thể được quan sát thấy trong vòng 7 ngày. Tuy nhiên, thông thường cần thiết có khoảng thời gian dài hơn để có được đáp ứng điều trị rõ ràng, đặc biệt trong chứng rối loạn xung lực cưỡng bức ám ảnh.

    Ðiều trị duy trì:

    Liều dùng trong quá trình điều trị dài hạn nên được giữ ở mức độ thấp nhất mà có hiệu quả, sau đó điều chỉnh tuỳ theo mức độ đáp ứng điều trị.

    Sử dụng ở trẻ em: Ðộ an toàn và hiệu quả của sertraline đã được thiết lập ở các bệnh nhân nhi khoa bị chứng rối loạn cưỡng bức ám ảnh tuổi từ 6 đến 17. Sử dụng Sertraline cho các bệnh nhân nhi khoa bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (tuổi từ 13 đến 17) nên được bắt đầu với liều 50mg/ngày. Ðiều trị cho bệnh nhân nhi khoa bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (tuổi từ 6 đến 12) nên khởi đầu với liều 25mg/ngày, tăng lên 50mg/ngày sau 1 tuần điều trị. Các liều tiếp theo có thể tăng lên, trong trường hợp thiếu đáp ứng với liều 50mg/ngày, đến 200mg/ngày nếu cần. Trong một thử nghiệm lâm sàng ở các bệnh nhân từ 6 đến 17 tuổi bị trầm cảm hoặc rối loạn cưỡng bức ám ảnh, sertraline tỏ ra có các đặc tính về dược động học tương tự như ở người lớn. Tuy nhiên, nhìn chung, trọng lượng cơ thể ở trẻ em thấp hơn so với ở người lớn nên được xem xét trước khi tăng liều vượt trên 50 mg/ ngày.

    Chuẩn liều ở trẻ em và thanh niên: Sertraline có thời gian bán thải xấp xỉ một ngày, mọi sự thay đổi về liều lượng không nên tiến hành với khoảng cách ít hơn 1 tuần.

    Sử dụng ở người cao tuổi: Có thể sử dụng các khoảng liều tương tự như ở các bệnh nhân trẻ. Trên 700 bệnh nhân cao tuổi (> 65 tuổi) đã tham gia vào các nghiên cứu lâm sàng nhằm chứng tỏ hiệu quả của sertraline ở nhóm bệnh nhân này. Kết quả cho thấy rằng chủng loại và tỷ lệ các tác dụng phụ ở các bệnh nhân cao tuổi này tương tự như ở các bệnh nhân trẻ.

    Sử dụng ở các bệnh nhân suy gan:

    Sử dụng sertraline cho các bệnh nhân có kèm theo các bệnh về gan nên bắt đầu cẩn thận. Liều lượng thấp hơn hoặc tăng khoảng cách giữa các liều nên được áp dụng ở các bệnh nhân suy gan.

    Sử dụng ở các bệnh nhân suy thận: Sertraline được chuyển hoá phần lớn trong cơ thể. Chỉ đào thải một lượng nhỏ thuốc dưới dạng chưa biến đổi qua nước tiểu, nên liều lượng của sertraline không cần phải điều chỉnh theo mức độ suy thận ở các bệnh nhân này.

    Chống chỉ định :

    Sertraline bị chống chỉ định cho các bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với sertraline.

    Không được sử dụng đồng thời sertraline trên các bệnh nhân đang điều trị với các thuốc ức chế men monoamine oxidase (IMAO).

    Tác dụng phụ

    Dữ liệu nghiên cứu lâm sàng:

    Các tác dụng phụ mà xuất hiện nhiều hơn một cách đáng kể ở nhóm sử dụng sertraline so với nhóm dùng giả dược ở các nghiên cứu sử dụng đa liều sertraline cho bệnh trầm cảm và rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD) là:

    Hệ thần kinh thực vật: khô mồm, nhiều mồ hôi.

    Hệ thần kinh trung ương và ngoại vi: chóng mặt và run rẩy.

    Hệ tiêu hoá: đi ngoài/phân lỏng, khó tiêu hoá và buồn nôn.

    Tâm thần: chán ăn, mất ngủ và ngủ gà.

    Hệ sinh sản: Rối loạn chức năng sinh dục (chủ yếu làm chậm xuất tinh ở nam).

    Các tác dụng phụ thường gặp trong các nghiên cứu mù đôi, có kiểm chứng bằng giả dược ở các bệnh nhân bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD) và rối loạn hoảng loạn cũng giống như các tác dụng phụ gặp phải trong các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân trầm cảm.

    Dữ liệu sau khi thuốc được đưa ra thị trường:

    Ðã nhận được các báo cáo tự nguyện về tác dụng phụ ở các bệnh nhân điều trị sertraline từ khi đưa thuốc này ra thị trường. Những tác dụng phụ này bao gồm:

    Hệ thần kinh thực vật: Giãn đồng tử, cương đau dương vật.

    Toàn thân: Phản ứng dị ứng, dị ứng, suy nhược, mệt mỏi, sốt và bừng mặt.

    Hệ tim mạch: Ðau ngực, tăng huyết áp, đánh trống ngực, phù quanh hốc mắt, ngất và tim nhanh.

    Hệ thần kinh trung ương và ngoại vi: Hôn mê, co giật, đau đầu, đau nửa đầu, rối loạn vận động (bao gồm các triệu chứng ngoại tháp như tăng vận động, tăng trương lực cơ, nghiến răng hay dáng đi bất thường), dị cảm và giảm cảm giác.

    Các dấu hiệu và triệu chứng có liên quan đến hội chứng ngộ độc serotonin cũng được báo cáo ở vài trường hợp sử dụng đồng thời với các thuốc cường hệ serotonergic, bao gồm kích động, lú lẫn, toát mồ hôi, ỉa chảy, sốt, tăng huyết áp, co cứng và nhịp tim nhanh.

    Hệ nội tiết: Tăng tiết sữa, tăng prolactin huyết và cường giáp trạng.

    Hệ tiêu hoá: Ðau bụng, viêm tuỵ, nôn.

    Hệ tạo máu: Thay đổi chức năng tiểu cầu, chảy máu bất thường (như chảy máu cam, xuất huyêt tiêu hoá, đi tiểu ra máu).

    Các thay đổi về xét nghiệm sinh hoá:

    Hệ gan mật: Các bệnh gan nặng (bao gồm viêm gan, vàng da và suy gan) và tăng không có triệu chứng transaminase huyết tương (SGOT và SGPT).

    Hệ dinh dưỡng và chuyển hoá: Hạ natri huyết, tăng cholesterol huyết tương.

    Tâm thần: Kích động, phản ứng thái quá, lo lắng, các triệu trứng u uất, ảo giác và loạn tâm thần.

    Hệ sinh sản: Kinh nguyệt không đều.

    Hô hấp: Co thắt phế quản.

    Da: rụng lông tóc, phù mạch và ban da (bao gồm, hiếm gặp các trường hợp viêm da tróc vẩy nặng).

    Hệ tiết niệu: Phù mặt, bí tiểu.

    Các triệu chứng khác: Các triệu chứng xuất hiện khi ngừng điều trị với sertraline đã được báo cáo bao gồm kích động, lo lắng, chóng mặt, đau đầu và dị cảm.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Arcalion 200

    Thuốc Arcalion 200

    Arcalion 200

    Arcalion 200
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao đường
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Sulbutiamine 200 mg
    SĐK:VN-22426-19
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – Cách dùng

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày. Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định:

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ:

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi. Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.

    Thông tin thành phần Sulbutiamine

    Dược lực:

    Sulbutiamine là một phân tử đặc biệt, kết quả của quá trình biến đổi cấu trúc của nhân thiamine: thành lập cầu nối disulfure, gắn thêm một nhánh ester ưa lipide, mở vòng thiazole. Các biến đổi này đưa đến:

    – Khả năng hòa tan trong lipide làm cho thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và cho phép qua được hàng rào máu-não;

    – Tính hướng thần kinh chuyên biệt trên hệ thống lưới, sừng Ammon và thể hình trứng, cũng như trên các tế bào Purkinje và tiểu cầu của lớp hạt vỏ tiểu não, được xác nhận bằng phương pháp nhuộm mô huỳnh quang, trong khi thiamine ở cùng điều kiện thì không bắt huỳnh quang nào cả.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Sulbutiamine được hấp thu nhanh, và đạt được nồng độ tối đa trong máu sau khi uống thuốc từ 1 đến 2h. Nồng độ trong máu sau đó giảm theo hàm số mũ.

    Phân bố:

    Thuốc được phân tán nhanh trong cơ thể.

    Thải trừ:

    Sulbitiamine được đào thải với thời gian bán hủy trong khoảng 5h, đào thải tối đa qua thận từ hai đến ba giờ sau khi uống thuốc.

    Tác dụng :

    Trên động vật:

    – Dùng Sulbutiamine cho phép cải thiện rất rõ sự phối hợp vận động và chống lại sự mệt mỏi ở cơ, chủ yếu trong các khảo sát có sử dụng thuốc an thần kinh làm suy giảm hệ vận động;

    – Ở vỏ não, Sulbutiamine cải thiện sự chịu đựng của vỏ não đối với việc giảm oxy mô lặp đi lặp lại nhiều lần. Mặt khác, Sulbutiamine cũng làm tăng trạng thái tỉnh táo ở động vật;

    – Ðã ghi nhận thuốc có hiệu lực tốt trên sự hình thành vận động và ghi nhớ trong các khảo sát về rèn luyện ở động vật;

    Trên người: Sulbutiamine đã được nghiên cứu trên lâm sàng so sánh với placebo hoặc sản phẩm tham khảo bằng cách sử dụng các khảo sát và dùng thang đánh giá tâm thần. Các khảo sát này cho thấy Sulbutiamine có hiệu lực chủ động trên tâm thần với tác động ưu thế trên sự ức chế tâm thần và ức chế thể lực.

    Chỉ định :

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.

    Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – cách dùng:

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày.

    Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định :

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi.

    Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Antivomi

    Thuốc Antivomi

    Antivomi

    Antivomi
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 10 vỉ, 25 vỉ x 6 viên

    Thành phần:

    Dimenhydrinate 50 mg
    SĐK:VD-33521-19
    Nhà sản xuất: Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Bình – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Bình
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Chứng say tàu xe.

    – Phòng và điều trị các chứng buồn nôn do nhiều nguyên nhân khác nhau (trừ do hoá trị liệu ung thư).

    Liều lượng – Cách dùng

    Đối với say tàu xe:
    Uống ít nhất nửa giờ trước khi khởi hành.
    – Người lớn: 1 – 2 viên/lần, có thể lặp lại liều này nếu cần sau 4 giờ còn đi tàu xe.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: dùng 1/2 – 1 viên/lần, uống như trên.
    – Trẻ em 2 – 8 tuổi: dùng 1/4 – 1/2 viên mỗi 4 giờ.
    Đối với trường hợp nôn mửa:
    – Người lớn: 1 – 2 viên x 3 lần/24 giờ.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: 1 viên x 3 lần/24 giờ.
    – Trẻ em 2 – 8 tuổi: 1/4 – 1/2 viên x 3 lần/24 giờ.
    Phòng và điều trị nôn, buồn nôn:
    – Người lớn: 1 – 2 viên x 3 lần/ngày.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: 1 viên x 3 lần/ngày.
    – Trẻ em từ  2 – 8 tuổi:1/4 – 1/2 viên x 3 lần/ngày.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần của thuốc, Glaucom góc đóng.

    Tương tác thuốc:

    Tránh dùng thức uống có cồn, thuốc kháng sinh có khả năng gây độc tính ở tai, thuốc ức chế TKTW, thuốc kháng cholinergic.

    Tác dụng phụ:

    Tăng tính nhầy nhớt chất tiết phế quản, rối loạn điều tiết, khô miệng, táo bón, bí tiểu, lú lẫn.

    Chú ý đề phòng:

    Không nên dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú, người lái xe và vận hành máy móc.

    Thông tin thành phần Dimenhydrinate

    Chỉ định :

    Chứng say tàu xe. Phòng và điều trị các chứng buồn nôn do nhiều nguyên nhân khác nhau (trừ do hoá trị liệu ung thư).

    Liều lượng – cách dùng:

    Đối với say tàu xe:
    Uống ít nhất nửa giờ trước khi khởi hành.
    – Người lớn: 1 – 2 viên/lần, có thể lặp lại liều này nếu cần sau 4 giờ còn đi tàu xe.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: dùng 1/2 – 1 viên/lần, uống như trên.
    – Trẻ em 2 – 8 tuổi: dùng 1/4 – 1/2 viên mỗi 4 giờ.
    Đối với trường hợp nôn mửa:
    – Người lớn: 1 – 2 viên x 3 lần/24 giờ.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: 1 viên x 3 lần/24 giờ.
    – Trẻ em 2 – 8 tuổi: 1/4 – 1/2 viên x 3 lần/24 giờ.
    Phòng và điều trị nôn, buồn nôn:
    – Người lớn: 1 – 2 viên x 3 lần/ngày.
    – Trẻ em 8 – 12 tuổi: 1 viên x 3 lần/ngày.
    – Trẻ em từ  2 – 8 tuổi:1/4 – 1/2 viên x 3 lần/ngày.

    Chống chỉ định :

    Glaucom góc đóng, nguy cơ bí tiểu.

    Tác dụng phụ

    Ngủ ngày. Tăng tính nhầy nhớt chất tiết phế quản, rối loạn điều tiết, khô miệng, táo bón, bí tiểu, lú lẫn.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Ansidex

    Thuốc Ansidex

    Ansidex

    Ansidex
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Dung dịch pha truyền tĩnh mạch
    Đóng gói:Hộp 5 lọ, 10 lọ, 25 lọ 2ml

    Thành phần:

    Dexmedetomidine (dưới dạng Dexmedetomidine hydroclorid) 100mcg/ml
    SĐK:VN-22296-19
    Nhà sản xuất: Baxter Pharmaceuticals India Private Limited – ẤN ĐỘ
    Nhà đăng ký: Baxter Healthcare (ASIA) Pte., Ltd
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    An thần cho các bệnh nhân bắt đầu đặt ống nội khí quản và thông khí nhân tạo trong khi điều trị trong tiến hành điều trị tích cực. Dexmedetomidine phải được dùng truyền liên tục không quá 24 giờ.

    Liều lượng – Cách dùng

    Dung nạp của Dexmedetomidine đã được ghi nhận trong một nghiên cứu trong đó những người khoẻ mạnh đã dùng các liều ngang và trên liều khuyến cáo từ 0,2 đến 0,7 mcg/kg/giờ. Nồng độ trong máu tối đa đạt được trong nghiên cứu này là khoảng 13 lần cao hơn giới hạn trên của mức điều trị. Các tác dụng đáng lưu ý nhất được thấy ở 2 người có nồng độ trong huyết tương cao nhất là blốc AV cấp 1 và blốc tim cấp 2. Không có thương tổn huyết động được thấy với blốc AV và blốc tim mà mất ngay trong vòng một phút.

    5 bệnh nhân đã dùng quá liều Dexmedetomidine trong các nghiên cứu an thần trong ICU. 2 người không có triệu chứng nào được báo cáo; 1 người dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút (gấp 2 lần liều nạp khuyến cáo) và một người dùng truyền duy trì 0,8 mcg/kg/giờ. 2 bệnh nhân khác dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút bị nhịp tim chậm và/hoặc hạ áp. 1 người dùng liều nạp tiêm nhanh Dexmedetomidine không pha loãng (19,4 mcg/kg) đã bị ngừng tim nhưng đã hồi phục hoàn toàn.

    Điều chỉnh liều:

    Có thể xem xét giảm liều với các bệnh nhân suy gan và suy thận (Xem Dược lý lâm sàng, Dược động học và Thận trọng, Suy gan).

    Chống chỉ định:

    Các bệnh nhân mẫn cảm với dexmedetomidine và trẻ em dưới 18 tuổi.

    Tương tác thuốc:

    Các nghiên cứu in vitro trên microsom gan người chỉ ra rằng không có các bằng chứng về tương tác thuốc qua trung gian cytochrome P450 nào có thể có liên hệ trên lâm sàng.

    Thuốc gây mê/ an thần/gây ngủ/opioid:

    Dùng đồng thời Dexmedetomidine có khả năng dẫn đến tăng các tác dụng của các thuốc gây mê, an thần, gây ngủ và opioid. Các nghiên cứu đặc hiệu đã xác nhận các tác dụng này với sevoflurane, isoflurane, propofol, alfetanil và midazolam. Không có tương tác dược động học giữa Dexmedetomidine và isoflurane, propofol, alfetanil và midazolam đã được chứng tỏ. Tuy nhiên, do các tương tác dược động lực học có thể có, khi dùng đồng thời với Dexmedetomidine, có thể cần giảm liều của Dexmedetomidine do các thuốc gây mê, an thần, gây ngủ và opioid dùng đồng thời.

    Các thuốc chẹn thần kinh cơ:

    Trong một nghiên cứu trên 10 người tình nguyện khoẻ mạnh, dùng Dexmedetomidine trong 45 phút với nồng độ trong huyết tương là 1 ng/ml không gây ra sự tăng có ý nghĩa lâm sàng về độ lớn của sự chẹn thần kinh cơ đi kèm với dùng rocuronium.

    Tác dụng phụ:

    Các thông tin về sự kiện bất lợi được lấy từ các thử nghiệm truyền liên tục, có kiểm chứng placebo, về dùng dexmedetomidine để an thần trong tiến hành điều trị tích cực trong đó 387 bệnh nhân dùng Dexmedetomidine. Nhìn toàn thể, các tác dụng bất lợi xuất hiện trong điều trị được thấy thường xuyên nhất bao gồm hạ áp, tăng áp, buồn nôn, chậm nhịp tim, sốt, nôn, thiếu ôxi thở vào, nhịp nhanh và thiếu máu .

    Chú ý đề phòng:

    Dexmedetomidine chỉ được sử dụng bởi những người có kỹ năng trong việc trông nom các bệnh nhân trong khi tiến hành điều trị tích cực. Do các tác dụng dược lý đã biết, bệnh nhân phải được theo dõi liên tục trong khi dùng Dexmedetomidine.

    Các tình trạng đáng kể trên lâm sàng về nhịp tim chậm và ngừng xoang là có liên quan với việc dùng Dexmedetomidine ở những người tình nguyện trẻ và khoẻ mạnh với trương lực dây thần kinh phế vị cao hoặc với các đường dùng khác nhau bao gồm tiêm tĩnh mạch nhanh hoặc tiêm nhanh.

    Một số bệnh nhân dùng Dexmedetomidine đã được thấy là dễ tỉnh và cảnh giác khi bị kích thích. Chỉ riêng điều này không được xem là bằng chứng của sự không có tác dụng nếu thiếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng khác.

    Đã có các báo cáo chậm nhịp tim và hạ áp liên quan với truyền Dexmedetomidine. Nếu cần can thiệp y tế, việc điều trị có thể bao gồm việc giảm hoặc ngừng truyền Dexmedetomidine, tăng tốc độ truyền dịch tĩnh mạch, để cao chi dưới hoặc dùng các thuốc tăng áp. Vì Dexmedetomidine có khả năng làm tăng chứng chậm nhịp gây bởi kích thích thần kinh phế vị, thầy thuốc phải chuẩn bị để sẵn sàng can thiệp. Tiêm tĩnh mạch các thuốc kháng cholinergic (ví dụ atropin) phải được xem xét để điều chỉnh trương lực thần kinh phế vị. Trong các thử nghiệm lâm sàng, atropin hoặc glycopyrrolat là có hiệu quả để điều trị hầu hết các cơn nhịp chậm gây bởi Dexmedetomidine. Tuy nhiên, ở vài bệnh nhân bị suy chức năng tim mạch đáng kể, cần có thêm các biện pháp phục hồi sâu hơn.

    Cần thận trọng khi dùng Dexmedetomidine cho các bệnh nhân bị blốc tim tiến triển và suy giảm chức năng tâm thất trầm trọng. Do Dexmedetomidine làm giảm hoạt động hệ thống thần kinh cảm xúc, giảm huyết áp và/ hoặc nhịp tim chậm được dự đoán có thể xảy ra ở bệnh nhận có lưu lượng máu giảm và ở những bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường hoặc bệnh nhân cao huyết áp mạn tính và ở người lớn tuổi.

    Trong trường hợp sử dụng các thuốc gây giãn mạch hoặc thuốc điều nhịp âm, việc sử dụng đồng thời với Dexmedetomidine có thể có tác dụng dược động học phụ và phải cẩn trọng khi sử dụng.

    Cao huyết áp thoáng qua đã được thấy chủ yếu trong khi dùng liều đầu, liên quan với các tác dụng co mạch ngoại biên ban đầu của Dexmedetomidine. Điều trị chứng cao huyết áp thoáng qua này nói chung là không cần thiết, mặc dù việc giảm tốc độ truyền có thể là tốt.

    Dexmedetomidine truyền không được dùng qua cùng catheter tĩnh mạch với máu hoặc huyết tương vì tính tương hợp về vật lý là chưa được đánh giá. An toàn và hiệu quả của dexmedetomidine chưa được đánh giá khi truyền kéo dài trên 24 giờ. Dexmedetomidine không được chỉ định để truyền kéo dài trên 24 giờ (xem Chỉ định, Liều lượng và cách dùng).

    Ngừng thuốc:

    Mặc dù chưa có nghiên cứu đặc hiệu, nếu Dexmedetomidine được truyền lâu dài và ngừng lại đột ngột, các triệu chứng ngừng thuốc tương tự với các triệu chứng được báo cáo cho một thuốc alpha-2 adrenergic khác là clonidine có thể xảy ra. Các triệu chứng này bao gồm căng thẳng, kích động, và đau đầu, đi kèm hoặc tiếp theo bởi sự tăng nhanh huyết áp và tăng nồng độ catecholamin trong huyết tương. Dexmedetomidine không được dùng quá 24 giờ (xem Chỉ định, Liều lượng và cách dùng).

    Suy thượng thận:

    Dexmedetomidine không có tác dụng lên sự giải phóng cortisol do kích thích ACTH ở chó sau khi dùng một liều đơn, tuy nhiên, sau khi truyền dưới da dexmedetomidine trong một tuần, đáp ứng cortisol với ACTH đã mất khoảng 40%.

    Suy gan:

    Vì thanh thải dexmedetomidine giảm khi bị suy gan nặng, phải xem xét giảm liều ở các bệnh nhân suy chức năng gan (xem Dược lý lâm sàng, Dược động học, Liều lượng và Cách dùng).

    Tính gây ung thư, đột biến và suy giảm khả năng sinh sản:

    Các nghiên cứu tính gây ung thư trên động vật chưa được tiến hành với dexmedetomidine.

    Dexmedetomidine không phải là chất gây đột biến gen trong in vitro, trong thử nghiệm đột biến nghịch ở vi khuẩn (E. coli và Salmonella typhimurium) hoặc thử nghiệm đột biến sớm ở tế bào động vật có vú (u bạch huyết chuột nhắt).

    Dexmedetomidine có tính gây gẫy gen trong thử nghiệm sai lệch nhiễm sắc thể ở tế bào bạch cầu người trong in vitro với sự hoạt hoá chuyển hoá, nhưng không có tính này khi không có hoạt hoá chuyển hoá. Dexmedetomidine cũng có tính gây gẫy gen trong thử nghiệm vi nhân ở chuột nhắt in vivo.

    Khả năng sinh sản của chuột cống đực hoặc cái không bị ảnh hưởng sau khi tiêm dưới da hàng ngày với các liều lên tới 54 mcgkg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Dexmedetomidine đã được dùng trước 10 tuần trước khi giao phối ở chuột đực và 3 tuần trước khi giao phối và trong khi giao phối ở chuột cái.

    Nhi khoa:

    Không có các nghiên cứu về an toàn và hiệu quả của Dexmedetomidine ở trẻ em dưới 18 tuổi. Vì vậy, không khuyên dùng Dexmedetomidine cho lứa tuổi này.

    Lão khoa:

    Trong các nghiên cứu lâm sàng, tổng số người 65 tuổi hoặc hơn là 531. Tổng số người 75 tuổi hoặc hơn là 129. Ở các bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi, tỷ lệ cao hơn về chậm nhịp tim và hạ huyết áp đã được thấy khi dùng Dexmedetomidine. Vì vậy, có thể xem xét giảm liều cho các bệnh nhân trên 65 tuổi.

    Dexmedetomidine được biết là bài tiết một phần bởi thận, và nguy cơ tác dụng bất lợi với thuốc này có thể lớn hơn ở các bệnh nhân suy chức năng thận. Vì các bệnh nhân già là thường có giảm chức năng thận, nên cẩn thận khi chọn liều cho các bệnh nhân già, và kiểm soát chức năng thận có thể có ích.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    Có thai:

    Tác dụng sinh quái thai:Pregnancy Category C.

    Tác dụng sinh quái thai không được thấy sau khi dùng dexmedetomidine ở các liều tiêm dưới da cao tới 200 mg/kg từ ngày có thai thứ 5 tới thứ 16 ở chuột cống và các liều tiêm tĩnh mạch cao tới 96 mg/kg từ ngày có thai thứ 6 tới thứ 18 ở thỏ. Liều này ở chuột cống là gấp khoảng 2 lần liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2. Sự tiếp xúc với thuốc ở thỏ là gần tương đương với người ở liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo giá trị diện tích dưới đường cong huyết tương. Tuy nhiên, độc tính với thai nhi, thể hiện bởi sự sẩy sau khi trứng đã làm tổ và giảm số con non sống, đã được thấy ở chuột ở liều tiêm dưới da 200 mcg/kg. Liều không có tác dụng là 20 mcg/kg (thấp hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Trong một nghiên cứu về sinh sản khác, Dexmedetomidine được dùng tiêm dưới da cho chuột cống có thai từ ngày thụ thai thứ 16 tới khi cho con bú, nó gây giảm trọng lượng con non ở liều 8 và 32 mcg/kg cũng như độc tính gây chết phôi và độc tính với thai ở thế hệ con non thứ hai ở liều 32 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Dexmedetomidine cũng gây chậm phát triển vận động ở con non ở liều 32 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2). Không thấy có tác dụng như vậy ở liều 2 mcg/kg (ít hơn liều tối đa khuyến cáo truyền tĩnh mạch cho người tính theo mcg/m2).

    Đã thấy dexmedetomidine đi qua nhau thai khi tiêm dưới da dexmedetomidine cho chuột cống mang thai.

    Không có các nghiên cứu được kiểm soát tốt và đầy đủ trên phụ nữ có thai. Dexmedetomidine chỉ nên dùng trong khi mang thai nếu lợi ích lớn hơn nguy cơ tiềm tàng cho thai nhi.

    Chuyển dạ và sinh nở:

    An toàn của Dexmedetomidine trên phụ nữ chuyển dạ và sinh nở chưa được nghiên cứu, vì vậy, không khuyên dùng trong khi chuyển dạ và sinh nở, bao gồm cả mổ đẻ.

    Phụ nữ cho con bú:

    Không biết là Dexmedetomidine có bài tiết qua sữa hay không. Dexmedetomidine đánh dấu phóng xạ dùng tiêm dưới da cho chuột cái cho con bú được bài tiết vào sữa.Vì nhiều thuốc là bài tiết qua sữa nên thận trọng khi dùng Dexmedetomidine truyền cho phụ nữ cho con bú.

    Thông tin thành phần Dexmedetomidine

    Dược lực:

    Dexmedetomidine là một chất chủ vận chọn lọc tương đối với thụ thể alpha2-adrenoreceptor với tác dụng an thần. Tính chọn lọc trên alpha2 được thấy ở động vật sau khi truyền tĩnh mạch chậm các liều thấp và trung bình (10-300 mcg/kg). Hoạt tính lên cả alpha1 và alpha2 được thấy sau khi truyền tĩnh mạch chậm các liều cao (1000 mcg/kg) hoặc tiêm tĩnh mạch nhanh. 

    Trong một nghiên cứu trên người tình nguyện khoẻ mạnh (N=10), chỉ số hô hấp và bão hoà ôxi vẫn nằm trong giới hạn bình thường và không có bằng chứng của suy hô hấp khi dùng Dexmedetomidine truyền tĩnh mạch ở các liều nằm trong mức liều khuyến cáo (0,2-0,7 mcg/kg/giờ).

    Dược động học :

    Sau khi tiêm tĩnh mạch, dexmedetomidine có các đặc tính dược động học sau: pha phân bố nhanh với thời gian bán phân bố (t1/2a) khoảng 6 phút; thời gian bán thải giai đoạn cuối (t1/2) khoảng 2 giờ; thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vss) khoảng 118 lít. Độ thanh thải có giá trị ước tính là khoảng 39 L/giờ. Thể trọng trung bình đi với đánh giá độ thanh thải này là 72 kg.

    Dexmedetomidin có động học tuyến tính trong khoảng liều từ 0,2 đến 0,7 µg/kg/giờ khi dùng truyền tĩnh mạch cho tới 24 giờ. Bảng 1 cho thấy các thông số dược động học chính khi truyền Precedex (sau các liều ban đầu thích hợp) ở các tốc độ truyền duy trì 0,17 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 0,3 ng/ml) trong 12 và 24 giờ; 0,33 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 0,6 ng/ml) trong 24 giờ, và 0,70 mcg/kg/giờ (nồng độ dự định đạt được là 1,25 ng/ml) trong 24 giờ.

    Phân bố:

    Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vss) của dexmedetomidin khoảng 118 lít. Liên kết với protein của dexmedetomidine đã được đánh giá trong huyết tương của nam giới và nữ giới tình nguyện. Giá trị liên kết protein trung bình là 94% và hằng định qua các nồng độ khác nhau đã được thử. Liên kết protein là tương tự ở nam giới và nữ giới. Phần dexmedetomidine hydrochlorid liên kết với protein huyết tương giảm đáng kể ở các bệnh nhân suy gan so với người khoẻ mạnh.

    Khả năng chiếm chỗ gắn kết của dexmedetomidine bởi fentanyl, ketorolac, theophyllin, digoxin và lidocain đã được khảo sát kỹ lưỡng trong in vitro, cho thấy thay đổi không đáng kể trong liên kết với protein huyết tương của dexmedetomidine. Khả năng chiếm chỗ gắn kết của phenytoin, warfarin, ibuprofen, propranolol, theophylline và digoxin bởi dexmedetomidine đã được khảo sát kỹ lưỡng trong in vitro và không có chất nào có vẻ bị chiếm chỗ đáng kể bởi dexmedetomidine.

    Chuyển hoá:

    Dexmedetomidine bị chuyển hoá sinh học hầu như hoàn toàn với lượng rất nhỏ dexmedetomidine được thải trừ qua nước tiểu và phân. Chuyển hoá sinh học bao gồm glucuronid hoá trực tiếp và chuyển hoá qua trung gian cytochrome P450. Các đường chuyển hoá chính của dexmedetomidine là N-glucuronid hoá trực tiếp thành các chất chuyển hoá không có hoạt tính; hydroxyl hoá phần chất béo (chủ yếu qua trung gian CYP2A6) của dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy dexmedetomidine; và N-methyl hoá dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy N-methyl dexmedetomidine, 3-carboxy N-methyl dexmedetomidine, và N-methyl-O-glucuronid dexmedetomidine.

    Thải trừ:

    Thời gian bán thải giai đoạn cuối (t

    1/2

    ) khoảng 2 giờ và độ thanh thải có giá trị ước tính là khoảng 39 L/giờ. Một nghiên cứu cân bằng khối chứng tỏ rằng sau 9 ngày có trung bình khoảng 95% hoạt độ phóng xạ, sau khi tiêm tĩnh mạch dexmedetomidine đánh dấu phóng xạ, được phát hiện trong nước tiểu và 4% qua phân. Không có dexmedetomidine ở dạng không đổi được phát hiện trong nước tiểu. Khoảng 85% hoạt độ phóng xạ phát hiện trong nước tiểu được thải trừ trong vòng 24 giờ sau khi truyền. Phân đoạn hoạt độ phóng xạ thải trừ trong nước tiểu chứng tỏ rằng các sản phẩm N-glucuronid hoá chiếm khoảng 34% tổng bài tiết qua nước tiểu. Thêm vào đó, hydroxyl hoá phần chất béo của thuốc mẹ để tạo thành 3-hydroxy dexmedetomidine, glucuronid của 3-hydroxy dexmedetomidine và 3-carboxylic dexmedetomidine cùng nhau chiếm khoảng 14% của liều trong nước tiểu. N-methyl hoá dexmedetomidine để tạo thành 3-hydroxy N-methyl dexmedetomidine, 3-carboxy N-methyl dexmedetomidine, và N-methyl-O-glucuronid dexmedetomidine chiếm khoảng 18% của liều trong nước tiểu. Chất chuyển hoá N-Methyl bản thân nó là một chất có rất ít và không phát hiện được trong nước tiểu. Khoảng 28% các chất chuyển hoá trong nước tiểu không xác định được.

    Giới:

    Không thấy có khác biệt về dược động học của dexmedetomidine do giới tính.

    Lão khoa:

    Dược động học của dexmedetomidine không bị ảnh hưởng bởi tuổi. Không thấy có khác biệt về dược động học của dexmedetomidine ở người trẻ (18-40 tuổi), trung niên (41-65 tuổi) và người già (> 65 tuổi).

    Nhi khoa:

    Dược động học của dexmedetomidine chưa được nghiên cứu ở trẻ em.

    Suy thận:

    Dược động học của dexmedetomidine hydrochlorid (Cmax, Tmax, AUC, t, CL và Vss) là không khác biệt ở những người bị suy thận nặng (thanh thải creatinin Suy gan:

    Ở các bệnh nhân với mức độ suy gan khác nhau (Child-Pugh nhóm A, B hoặc C), các giá trị thanh thải là thấp hơn so với người khoẻ mạnh. Giá trị thanh thải trung bình cho những người bị suy gan nhẹ, vừa và nặng là 74%, 64% và 53%, so với mức ở người khoẻ mạnh bình thường, một cách tương ứng. Thanh thải trung bình cho thuốc tự do là 59%, 51% và 32% so với mức ở người khoẻ mạnh bình thường, một cách tương ứng.

    Mặc dù Precedex được định liều theo tác dụng, có thể cần xem xét giảm liều cho các bệnh nhân suy gan (xem Thận trọng: Suy gan và Liều lượng và cách dùng).

    Chỉ định :

    An thần cho các bệnh nhân bắt đầu đặt ống nội khí quản và thông khí nhân tạo trong khi điều trị trong tiến hành điều trị tích cực. Dexmedetomidine phải được dùng truyền liên tục không quá 24 giờ.

    Liều lượng – cách dùng:

    Dung nạp của Dexmedetomidine đã được ghi nhận trong một nghiên cứu trong đó những người khoẻ mạnh đã dùng các liều ngang và trên liều khuyến cáo từ 0,2 đến 0,7 mcg/kg/giờ. Nồng độ trong máu tối đa đạt được trong nghiên cứu này là khoảng 13 lần cao hơn giới hạn trên của mức điều trị. Các tác dụng đáng lưu ý nhất được thấy ở 2 người có nồng độ trong huyết tương cao nhất là blốc AV cấp 1 và blốc tim cấp 2. Không có thương tổn huyết động được thấy với blốc AV và blốc tim mà mất ngay trong vòng một phút.

    5 bệnh nhân đã dùng quá liều Dexmedetomidine trong các nghiên cứu an thần trong ICU. 2 người không có triệu chứng nào được báo cáo; 1 người dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút (gấp 2 lần liều nạp khuyến cáo) và một người dùng truyền duy trì 0,8 mcg/kg/giờ. 2 bệnh nhân khác dùng liều nạp ban đầu 2mcg/kg trong 10 phút bị nhịp tim chậm và/hoặc hạ áp. 1 người dùng liều nạp tiêm nhanh Dexmedetomidine không pha loãng (19,4 mcg/kg) đã bị ngừng tim nhưng đã hồi phục hoàn toàn.

    Điều chỉnh liều:

    Có thể xem xét giảm liều với các bệnh nhân suy gan và suy thận (Xem Dược lý lâm sàng, Dược động học và Thận trọng, Suy gan).

    Chống chỉ định :

    Các bệnh nhân mẫn cảm với dexmedetomidine và trẻ em dưới 18 tuổi.

    Tác dụng phụ

    Các thông tin về sự kiện bất lợi được lấy từ các thử nghiệm truyền liên tục, có kiểm chứng placebo, về dùng dexmedetomidine để an thần trong tiến hành điều trị tích cực trong đó 387 bệnh nhân dùng Dexmedetomidine. Nhìn toàn thể, các tác dụng bất lợi xuất hiện trong điều trị được thấy thường xuyên nhất bao gồm hạ áp, tăng áp, buồn nôn, chậm nhịp tim, sốt, nôn, thiếu ôxi thở vào, nhịp nhanh và thiếu máu .
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Apratam: Công dụng, liều dùng và thận trọng

    Thuốc Apratam: Công dụng, liều dùng và thận trọng

    Thuốc Apratam được chỉ định để điều trị các dấu hiệu triệu chứng liên quan chóng mặt, thiếu máu cục bộ cấp, nghiện rượu. Bài viết thuốc Apratam mang tính chất tham khảo, bệnh nhân sử dụng thuốc cần có chỉ dẫn bác sĩ chuyên môn.

    Apratam

    Apratam
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nang cứng
    Đóng gói:Hộp 3 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Piracetam
    Hàm lượng:
    400mg
    SĐK:VN-15827-12
    Nhà sản xuất: S.C. Arena Group S.A. – RU MA NI
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH Dược phẩm Huy Nhật
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Các bệnh do tổn thương não, các triệu chứng của phẫu thuật não và tổn thương não: rối loạn tâm thần, tai biến mạch máu não, liệt nửa người, thiếu máu cục bộ.

    – Các bệnh do rối loạn não ngoại vi và trung ương: chóng mặt, nhức đầu, mê sảng nặng.
    – Các bệnh do rối loạn não: hôn mê, lão hóa, suy giảm ý thức.

    – Các tai biến về mạch não, nhiễm độc carbon monoxide & di chứng.

    – Suy giảm chức năng nhận thức & suy giảm thần kinh cảm giác mãn tính ở người già.
    – Chứng khó học ở trẻ, nghiện rượu mãn tính, rung giật cơ.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Liều thường dùng 30 – 160 mg/kg/ngày, chia đều 2 lần hoặc 3 – 4 lần /ngày.
    – Điều trị dài ngày các hội chứng tâm thần thực thể ở người cao tuổi: 1,2 – 2,4 g/ngày. Liều có thể cao tới 4,8 g/ngày/những tuần đầu.
    – Điều trị nghiện rượu: 12 g/ngày/thời gian cai rượu đầu tiên. Điều trị duy trì: Uống 2,4 g/ngày.
    – Suy giảm nhận thức sau chấn thương não: Liều ban đầu: 9 – 12 g/ngày, liều duy trì: 2,4 g/ngày, uống ít nhất trong 3 tuần.
    – Thiếu máu hồng cầu liềm: 160 mg/kg/ngày, chia đều làm 4 lần.
    – Điều trị giật rung cơ: 7,2 g/ngày, chia làm 2 – 3 lần. Tuỳ theo đáp ứng cứ 3 – 4 ngày/lần, tăng thêm 4,8 g/ngày cho tới liều tối đa là 20 g/ngày.
     
    Thông thường:

    Người lớn: liều khởi đầu 800 mg, mỗi ngày ba lần.

    Trường hợp cải thiện 400 mg, mỗi ngày ba lần.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần thuốc, suy thận nặng và phụ nữ có thai, cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Thuốc kích thích thần kinh trung ương, thuốc hướng thần kinh, hocmon giáp trạng.

    Tác dụng phụ:

    Có thể xảy ra kích thích nhẹ, nhưng có thể kiểm soát được bằng cách giảm liều.

    Chú ý đề phòng:

    Người lớn tuổi. Ðộng kinh.

    Thông tin thành phần Piracetam

    Dược lực:

    Piracetam là loại thuốc hưng trí(cải thiện chuyển hoá của tế bào thần kinh).

    Dược động học :

    – Hấp thu: Sau khi uống, thuốc được hấp thu nhanh chóng và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Sinh khả dụng là gần như 100%. Sự hấp thụ không thay đổi khi điều trị lâu dài.

    – Phân phối: Khối lượng phân phối xấp xỉ 0,6 l / kg. Piracetam thâm nhập vào tất cả các mô và có thể đi qua hàng rào máu não, nhau thai và các màng được sử dụng trong thẩm tách thận. Piracetam không liên kết với protein huyết tương.

    – Thải trừ: Thải trừ qua thận nguyên vẹn, độ thanh thải của piracetam qua thận ở người bình thường là 86 ml / phút. Hơn 95% thuốc được thải trừ qua nước tiểu 30 giờ sau khi uống. Ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận, thời gian bán thải tăng lên.

    Tác dụng:

    Piracetam (một dẫn xuất tuần hoàn của axit gamma-aminobutyric, GABA) được coi là một chất kích thích (cải thiện chuyển hóa tế bào thần kinh), mặc dù ít người biết về các tác dụng cụ thể và cơ chế hoạt động của nó.

    Piracetam hoạt động trên một số chất dẫn truyền thần kinh như acetylcholine, norepinephrine, dopamine … Thuốc có thể thay đổi chất dẫn truyền thần kinh và giúp cải thiện môi trường trao đổi chất của tế bào thần kinh. Nó hoạt động tốt.

    Trong thí nghiệm, piracetam bảo vệ chống lại các rối loạn chuyển hóa do thiếu máu cục bộ bằng cách tăng sức đề kháng của não đối với tình trạng thiếu oxy.

    Piracetam làm tăng huy động và sử dụng glucose độc ​​lập với quá trình oxy hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho con đường pentose và duy trì tổng hợp năng lượng trong não.

    Thuốc còn có tác dụng làm tăng giải phóng dopamin, có tác dụng tốt lên sự hình thành trí nhớ.

    Piracetam không có tác dụng gây ngủ, an thần, hồi sức ,giảm đau.

    Piracetam làm giảm kết tập tiểu cầu và trong trường hợp các tế bào hồng cầu cứng bất thường, thuốc có thể khôi phục khả năng biến dạng của hồng cầu và khả năng đi qua các mao mạch của chúng. Thuốc có tác dụng chống viêm. Rung giật cơ.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Arcatamin

    Thuốc Arcatamin

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Arcatamin công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Arcatamin điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Arcatamin ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Arcatamin

    Arcatamin
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế: Viên nén bao đường
    Đóng gói: Hộp 2 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Sulbutiamine 200 mg
    SĐK:VD-29625-18
    Nhà sản xuất: Công ty cổ phần Dược DANAPHA – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty cổ phần Dược DANAPHA
    Nhà phân phối: azthuoc

    Chỉ định thuốc Arcatamin

    Điều trị một vài tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy nhược thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Suy nhược sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    Trường hợp bệnh nhân đã được xác định là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – Cách dùng thuốc Arcatamin

    Liều trung bình 2 viên mỗi ngày, uống một lần vào bữa ăn sáng. Trường hợp suy nhược nặng có thể tăng liều lên 3 viên/ngày.

    Chống chỉ định thuốc Arcatamin

    Quá mẫn với thành phần của thuốc.

    Tác dụng phụ thuốc Arcatamin

    – Đôi khi thuốc có thể gây kích động ở người lớn tuổi.

    – Một vài trường hợp có thể dị ứng da.

    Bảo quản thuốc Arcatamin

    – Để thuốc nơi khô, thoáng, tránh ánh sáng.

    ĐỂ XA TẦM TAY TRẺ EM.

    Thông tin thành phần Sulbutiamine

    Dược lực:

    Sulbutiamine là một phân tử đặc biệt, kết quả của quá trình biến đổi cấu trúc của nhân thiamine: thành lập cầu nối disulfure, gắn thêm một nhánh ester ưa lipide, mở vòng thiazole. Các biến đổi này đưa đến:

    – Khả năng hòa tan trong lipide làm cho thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và cho phép qua được hàng rào máu-não;

    – Tính hướng thần kinh chuyên biệt trên hệ thống lưới, sừng Ammon và thể hình trứng, cũng như trên các tế bào Purkinje và tiểu cầu của lớp hạt vỏ tiểu não, được xác nhận bằng phương pháp nhuộm mô huỳnh quang, trong khi thiamine ở cùng điều kiện thì không bắt huỳnh quang nào cả.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Sulbutiamine được hấp thu nhanh, và đạt được nồng độ tối đa trong máu sau khi uống thuốc từ 1 đến 2h. Nồng độ trong máu sau đó giảm theo hàm số mũ.

    Phân bố:

    Thuốc được phân tán nhanh trong cơ thể.

    Thải trừ:

    Sulbitiamine được đào thải với thời gian bán hủy trong khoảng 5h, đào thải tối đa qua thận từ hai đến ba giờ sau khi uống thuốc.

    Tác dụng :

    Trên động vật:

    – Dùng Sulbutiamine cho phép cải thiện rất rõ sự phối hợp vận động và chống lại sự mệt mỏi ở cơ, chủ yếu trong các khảo sát có sử dụng thuốc an thần kinh làm suy giảm hệ vận động;

    – Ở vỏ não, Sulbutiamine cải thiện sự chịu đựng của vỏ não đối với việc giảm oxy mô lặp đi lặp lại nhiều lần. Mặt khác, Sulbutiamine cũng làm tăng trạng thái tỉnh táo ở động vật;

    – Ðã ghi nhận thuốc có hiệu lực tốt trên sự hình thành vận động và ghi nhớ trong các khảo sát về rèn luyện ở động vật;

    Trên người: Sulbutiamine đã được nghiên cứu trên lâm sàng so sánh với placebo hoặc sản phẩm tham khảo bằng cách sử dụng các khảo sát và dùng thang đánh giá tâm thần. Các khảo sát này cho thấy Sulbutiamine có hiệu lực chủ động trên tâm thần với tác động ưu thế trên sự ức chế tâm thần và ức chế thể lực.

    Chỉ định :

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.

    Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – cách dùng:

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày.

    Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định :

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi.

    Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Arcatamin và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Arcatamin bình luận cuối bài viết.

    Nguồn tham khảo uy tín

    Thuốc Arcatamin cập nhật ngày 10/12/2020: https://tracuuthuoctay.org/thuoc-arcatamin-tac-dung-lieu-dung-gia-bao-nhieu/

  • Thuốc Arenmax Tab.

    Thuốc Arenmax Tab.

    Arenmax Tab.

    Arenmax Tab.
    Nhóm thuốc: Thuốc giảm đau, hạ sốt, Nhóm chống viêm không Steroid, Thuốc điều trị Gút và các bệnh xương khớp
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 1 vỉ x 4 viên

    Thành phần:

    Acid Alendronic (dưới dạng Alendronat natri 91,37mg) 70mg
    SĐK:VN-20604-17
    Nhà sản xuất: Yoo Young Pharm Co., Ltd – HÀN QUỐC
    Nhà đăng ký: Pharmaunity Co., Ltd
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị loãng xương ở người lớn tuổi, phụ nữ mãn kinh để giảm nguy cơ gãy xương.

    Liều lượng – Cách dùng

    * Liều dùng:
    Mỗi tuần một viên duy nhất 70 mg.
    Không cần phải điều chỉnh liều cho người cao tuổi, người suy gan hoặc người bệnh suy thận từ nhẹ đến vừa phải (độ thanh lọc creatinin từ 35 đến 60ml/phút).

    * Cách dùng:
    Uống nguyên viên 70 mg với một cốc nước thường (khoảng 180 – 240 ml) lúc mới ngủ dậy trong ngày hoặc ít nhất 30 phút trước khi ăn. Không được nằm sau khi uống thuốc.
    –  Nếu quên dùng thuốc có thể uống bù một viên vào buổi sáng ngay sau khi phát hiện. Không được uống 2 viên trong cùng một ngày mà trở lại uống mỗi tuần 1 viên duy nhất vào đúng ngày trong tuần như lịch đã chọn ban đầu.

    Chống chỉ định:

    – Các dị thường thực quản dẫn đến chậm làm rỗng thực quản như hẹp hoặc co thắt cơ vòng thực quản.

    – Không có khả năng đứng hoặc ngồi thẳng trong vòng 30 phút.

    – Nhạy cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

    – Giảm calci huyết.

    Thông tin thành phần Alendronic

    Dược lực:

    Alendronat natri là chất ức chế tiêu xương.

    Dược động học :

    So với một liều chuẩn tiêm tĩnh mạch, khả dụng sinh học đường uống trung bình ở phụ nữ là 0,7% với những liều trong phạm vi từ 5 – 40mg, uống sau 1 đêm nhịn ăn và 2 giờ trước một bữa ăn sáng chuẩn.

    Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy khi tiêm tĩnh mạch liều 1mg/kg, alendronat phân bố nhất thời ở các mô mềm nhưng sau đó phân bố lại vào xương hoặc bài xuất qua nước tiểu. Liên kết với protein trong huyết tương người xấp xỉ 78%.

    Không có bằng chứng là alendronat được chuyển hóa ở người.

    Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều duy nhất 10mg, độ thanh thải ở thận của alendronat là 71ml/phút. Nồng độ thuốc trong huyết tương giảm hơn 95% trong vòng 6 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch. Ở người, nửa đời kết thúc của thuốc ước tính vượt trên 10 năm, có lẽ phản ánh sự giải phóng của alendronat từ bộ xương.

    Tác dụng :

    Alendronat là một aminobisphosphonat có tác dụng ức chế tiêu xương đặc hiệu. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy Alendronat tích tụ chọn lọc ở các vị trí tiêu xương đang hoạt động, nơi mà alendronat ức chế sự hoạt động của các hủy cốt bào.

    Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy điều trị tiền lâm sàng bằng alendronat có thể làm tăng đáng kể khối lượng xương ở xương cột sống, cổ xương đùi và mấu chuyển. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng ở các phụ nữ mãn kinh từ 40 đến 85 tuổi bị loãng xương (được xác định là có khối lượng xương thấp, ít nhất là 2 độ lệch chuẩn dưới trung bình của thời kỳ trước mãn kinh), điều trị bằng alendronatlàm giảm đáng kể số lần gẫy đốt sống sau 3 năm dùng thuốc. Mật độ chất khoáng ở xương tăng rõ rệt sau 3 tháng điều trị bằng alendronat và còn tiếp tục trong suốt quá trình dùng thuốc. Tuy nhiên sau 1 – 2 năm điều trị, nếu ngừng liệu pháp alendronat thì không duy trì được sự tăng khối lượng xương. Điều đó chứng tỏ phải liên tục điều trị hàng ngày mới duy trì được hiệu quả chữa bệnh.

    Chỉ định :

    Alendronat được chỉ định để điều trị và dự phòng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh. Trong điều trị loãng xương, alendronat làm tăng khối lượng xương và ngăn ngừa gẫy xương, kể cả khớp háng, cổ tay và đốt sống (gãy do nén đốt sống). 

    Để dự phòng loãng xương, có thể dùng alendronat cho phụ nữ có nguy cơ mắc loãng xương hoặc cho người mong muốn duy trì khối lượng xương và giảm nguy cơ gẫy xương sau này. 

    Để dự phòng và điều trị loãng xương do dùng corticosteroid.

    Alendronat được chỉ địng để điều trị bệnh xương Paget: 

    Điều trị được chỉ định cho bị bệnh xương Paget có phosphatase kiềm cao hơn ít nhất hai lần giới hạn trên của bình thường hoặc người có triệu chứng bệnh, hoặc người có nguy cơ mắc bệnh biến chứng sau này về bệnh đó.

    Liều lượng – cách dùng:

    Alendronat dùng uống. Để hấp thu alendronat, phải uống thuốc với một lượng nước khoảng 180 – 240ml (không dùng nước khoáng) ít nhất 30 phút trước khi ăn, uống hoặc dùng thuốc khác trong ngày. Uống thuốc xong phải đợi 30 phút mới được ăn, uống hoặc dùng một thuốc khác, như thế sẽ làm alendronat được hấp thu tốt hơn. Ngay cả khi uống thuốc với nước cam hoặc cà phê thì sự hấp thu của alendronat cũng đã giảm rõ rệt. Phải hướng dẫn người bệnh không mút hoặc nhai viên nén alendronat. Phải hướng dẫn người bệnh tránh nằm trong ít nhất 30 phút sau khi uống alendronat để thuốc vào dạ dày dễ dàng và giảm tiềm năng kích ứng thực quản. Ngoài ra, phải hướng dẫn người bệnh không uống alendronat vào lúc đi ngủ hoặc trước khi dậy trong ngày.

    Liều dùng thông thường cho người lớn mắc bệnh xương hóa đá

    Người lớn: Dùng đường uống 10 mg mỗi ngày hoặc 70 mg một lần mỗi tuần.

    Liều dùng thông thường cho người lớn mắc bệnh Paget

    Người lớn: Dùng đường uống 40 mg mỗi ngày trong vòng 6 tháng; có thể dùng lại thuốc nếu cần thiết sau khoảng thời gian điều trị 6 tháng.

    Liều dùng thông thường cho người lớn phòng ngừa bệnh loãng xương sau mãn kinh

    Người lớn: Dùng đường uống 5 mg một lần mỗi ngày hoặc 35 mg một lần mỗi tuần.

    Liều dùng thông thường cho người lớn mắc bệnh loãng xương do Corticosteroid

    Người lớn: Dùng đường uống Điều trị và ngăn ngừa: 5 mg mỗi ngày; có thể tăng liều lượng lên đến 10 mg mỗi ngày ở phụ nữ không dùng liệu pháp thay thế hormone.

    Chống chỉ định :

    Dị dạng thực quản làm chậm tháo sạch thực quản thí dụ hẹp hoặc không giãn tâm vị thực quản.

    Không có khả năng đứng hoặc ngồi thẳng trong ít nhất 30 phút.

    Quá mẫn với bisophosphonat hoặc với bất kỳ thành phần nào trong chế phẩm.

    Giảm calci máu.

    Tác dụng phụ

    Trong các nghiên cứu lâm sàng, các phản ứng có hại do dùng alendronat thường nhẹ và nói chung không cần phải ngừng thuốc. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn tăng đáng kể ở người điều trị bệnh xương Paget với liều 40mg/ngày, chủ yếu là tác dụng không mong muốn ở đường tiêu hóa.

    Thường gặp:

    + Hệ thần kinh trung ương: Nhức đầu, đau

    + Tiêu hóa: Đầy hơi, trào ngược acid, viêm loét thực quản, nuốt khó, chướng bụng.

    Ít gặp:

    + Da: Ban, ban đỏ (hiếm)

    + Tiêu hóa: Viêm dạ dày.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

online casinos deutschland
legale online casinos deutschland
wettanbieter deutschland
online casinos mit eu lizenz
top crypto casinos
casino en ligne fiable
online casinos deutschland
beste online casino schweiz
non GamStop betting
new casinos UK
best casino sites UK
best UK casino sites
non UK bookmakers
fast payout casino
non GamStop casinos UK
casinos not on GamStop
sites not on GamStop
non GamStop casino
online casinos deutschland
top online casinos deutschland
sportwetten ohne oasis
wetten ohne oasis
neue online casinos deutschland
online casino ohne deutsche lizenz
online casino ohne oasis
online casino ausland
neue online casinos
neue online casinos
online casino ohne oasis
online casino bonus ohne einzahlung
online casino ohne oasis
online casino ohne limit
online casino ohne limit
online casinos auszahlung ohne verifizierung
neue online casinos deutschland
online casinos ohne oasis
online casino ohne oasis
online casino ohne oasis
neue online casinos deutschland
neue deutsche online casinos
online casino ohne oasis
online casino ohne oasis
online casinos ohne oasis
online casino ohne oasis
online casinos ohne oasis
online casino buitenland
online casino buitenland
online casino ohne oasis
neue online casinos deutschland
neue online casinos deutschland
besten online casinos deutschland
beste online casinos in deutschland
beste online casinos deutschland
online casinos in deutschland
non GamStop casinos
non GamStop casino UK
non GamStop casino
casinos not on GamStop
non GamStop casinos
gambling sites not on GamStop
non GamStop casinos
bookmakers stranieri non aams
siti casino online
casino online nuovi
siti scommesse non aams
bookmaker non aams
bookmaker non aams
meilleur casino en ligne
meilleur casino en ligne
casino en ligne france
casino en ligne
meilleur casino en ligne
nouveau casino en ligne fiable
site de paris sportif
site de paris hors arjel
neue wettanbieter
wettanbieter deutschland
free spins no deposit non GamStop
online casinos
online casinos
online casino
online casino buitenland
wettanbieter ohne oasis
sportwetten ohne oasis
wettanbieter ohne oasis
online casino schnelle auszahlung
online casino mit sofortauszahlung
online casino mit schneller auszahlung
online casino sofort auszahlung
online casinos Canada
online casinos
online casinos Canada
online casinos
best online casinos Canada
casino ohne oasis
casino ohne oasis
online casino ohne oasis
online casino ohne 1 euro limit