Blog

  • Thuốc Aritero 30

    Thuốc Aritero 30

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Aritero 30 công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Aritero 30 điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Aritero 30 ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Aritero 30

    Aritero 30
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 3 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Aripiprazole 30mg
    SĐK:VN3-80-18
    Nhà sản xuất: Hetero Labs Limited – ẤN ĐỘ
    Nhà đăng ký: Hetero Labs Limited
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
    Điều trị các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong Rối loạn lưỡng cực I và để ngăn ngừa một giai đoạn hưng cảm mới ở những người trưởng thành trải qua giai đoạn hưng cảm chủ yếu và các giai đoạn hưng cảm đã đáp ứng với điều trị aripiprazole;

    Liều lượng – Cách dùng

    Tâm thần phân liệt:
    Liều thông thường:
     
    Liều khuyến cáo khởi đầu và liều đích là 10-15 mg/ngày, dùng một lần, không phụ thuộc bữa ăn. Thuốc đã được đánh giá một cách hệ thống và cho thấy thuốc có hiệu lực với các liều 10-30 mg/mgày, tuy nhiên, liều cao hơn 10-15 mg/ngày (là liều thấp nhất trong các thử nghiệm này) cũng không có hiệu lực hơn liều 10-15 mg/ngày. Không tăng liều trước 2 tuần vì đây là thời gian cần để đạt trạng thái ổn định. 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    Thường không cần thiết phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng suy gan thận. 
    Phối hợp aripiprazole với thuốc ức chế CYP3A4: 
    Khi phối hợp ketoconazole với aripiprazole cần phải giảm liều aripiprazole xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP3A4. 
    Phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6: 
    Khi phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6 ví dụ khi phối hợp với quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine với aripiprazole, thì cũng phải giảm liều aripiprazole ít nhất xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP2D6. 
    Phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4: 
    Khi phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4 ví dụ như phối hợp với carbamazepine thì cần dùng liều aripiprazole gấp đôi (tới 20-30mg). Việc tăng liều nên dựa theo đánh giá lâm sàng. Khi ngưng carbamazepine thì nên giảm liều aripiprazole xuống còn 10-15mg/ngày. 

    Điều trị duy trì: 
    Vì chưa có số liệu có giá trị về việc sử dụng aripiprazole dài hạn, việc đánh giá một cách hệ thống bệnh nhân tâm thần phân liệt đã ổn định về triệu chứng với các thuốc chống loạn thần khác trong thời gian ≥3 tháng, đã ngừng các thuốc đó và sau đó dùng Aripiprazole 15mg/ngày và được theo dõi tái phát trong thời gian 26 tuần, cho thấy điều trị duy trì như thế là có lợi. Cần định kỳ đánh giá lại để xác định nhu cầu điều trị duy trì. 

    Chuyển đổi từ các thuốc chống loạn thần khác: 
    Chưa có dữ liệu được thu thập có hệ thống về việc chuyển bệnh nhân tâm thần phân liệt đã dùng thuốc tâm thần khác sang Aripiprazole hoặc về việc phối hợp Aripiprazole với các thuốc tâm thần khác. Việc ngừng đột ngột thuốc tâm thần dùng trước đó mặc dù có thể chấp nhận được ở một số bệnh nhân tâm thần phân liệt, tuy nhiên với các bệnh nhân khác thì ngưng từ từ có thể thích hợp hơn. Trong mọi trường hợp, thời kỳ giao nhau giữa các thuốc nên được giảm xuống tối thiểu. 
    Hưng cảm lưỡng cực: 
    Liều thông thường: 
    Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều khởi đầu là 30mg ngày 1 lần. Liều 30mg/ngày được thấy là có hiệu quả khi dùng dưới dạng viên. Khoảng 15% bệnh nhân được giảm liều xuống 15mg dựa vào mức độ dung nạp. Tính an toàn của các liều cao hơn 30mg/ngày hiện chưa được đánh giá qua thử nghiệm lâm sàng. 
    Liều duy trì: 
    Hiện chưa có số liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát để đưa ra khuyến cáo về liều lượng khi sử dụng dài hạn cho bệnh nhân đã có cải thiện sau khi điều trị cơn cấp tính với aripriprazole. Mặc dù việc tiếp tục điều trị sau khi cơn cấp tính có đáp ứng là cần thiết, nhằm duy trì đáp ứng lúc đầu và ngăn ngừa tái phát cơn hưng cảm cấp tính, hiện chưa có dữ liệu có hệ thống ủng hộ việc sử dụng aripriprazole trong điều trị dài hạn như thế (dùng quá 3 tuần). 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    xem Liều ở các đối tượng đặc biệt trong Liều lượng và Cách dùng: Tâm thần phân liệt. 
    Quá liều 
    Chất kiểm tra: Aripiprazole (aripiprazole) không phải là chất để kiểm tra.
    Lạm dụng và lệ thuộc thuốc: 
    Chưa có nghiên cứu có hệ thống ở người về khả năng gây lạm dụng, lệ thuộc thuốc hoặc dung nạp thuốc của aripiprazole. Nghiên cứu trên khỉ về lệ thuộc thuốc, thấy có triệu chứng cai khi ngừng thuốc đột ngột. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng chưa cho thấy có khuynh hướng nào về thái độ lệ thuộc thuốc, các nhận xét trên chưa có hệ thống và không thể dùng để làm cơ sở kinh nghiệm, vì các thuốc tác động trên thần kinh trung ương có thể bị lạm dụng một khi đưa ra thị trường. 
    Vì vậy, bệnh nhân cần được đánh giá rất cẩn thận về tiền sử lạm dụng thuốc và những bệnh nhân như thế cần được theo dõi tỉ mỉ các dấu hiệu lạm dụng hoặc dùng sai Aripiprazole (ví dụ: tăng dung nạp, tăng liều, thái độ lệ thuộc thuốc).

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn cảm với thành phần của thuốc.

    Tương tác thuốc:

    Aripiprazole tác dụng chủ yếu trên thần kinh trung ương, cho nên thận trọng khi phối hợp Aripiprazole với rượu và các thuốc tác động lên thần kinh trung ương. Do có tác dụng đối kháng ở thụ thể alpha1-adrenergic, nên aripiprazole có khả năng làm tăng tác dụng của một số thuốc chống tăng huyết áp.

    Ảnh hưởng của các thuốc khác đối với Aripiprazole:

    Aripiprazole không phải là cơ chất của các enzym CYP1A1, CYP1A2, CYP2A6, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2E1. Aripiprazole cũng không bị trực tiếp liên hợp glucuronic. Điều này cho thấy không thể có tương tác giữa aripiprazole với các chất ức chế hoặc các chất cảm ứng các enzym trên, hoặc không có tương tác với các yếu tố khác như hút thuốc lá.

    Cả CYP3A4 và CYP2D6 đều chịu trách nhiệm về chuyển hoá của aripiprazole. Những chất cảm ứng CYP3A4 (như carbamazepine) có thể làm tăng thanh lọc aripiprazole và làm giảm hàm lượng của thuốc này trong máu. Thuốc ức chế CYP3A4 (như ketoconazole) hoặc ức chế CYP2D6 (như quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine) có thể ức chế sự đào thải của aripiprazole và gây tăng nồng độ aripiprazole trong máu.

    Ketoconazole:

    Phối hợp ketoconazole (mỗi ngày 200mg, dùng trong 14 ngày) với liều đơn 15mg aripiprazole làm tăng AUC của aripiprazole lên 63% và AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính lên 77%. Chưa nghiên cứu về tác dụng của liều ketoconazole cao hơn (400mg mỗi ngày). Khi có phối hợp như trên, cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole. Các chất ức chế mạnh CYP3A4 (như itraconazole) cũng có tác dụng như trên, do đó cần giảm liều aripiprazole khi dùng chung. Chưa có nghiên cứu các chất ức chế yếu CYP3A4 (như erythromycin, nước bưởi). Khi ngưng dùng thuốc ức chế CYP3A4 trong phối hợp, có thể tăng lại liều aripiprazole tới liều thường dùng.

    Quinidine:

    Phối hợp liều đơn 10mg aripiprazole với quinidine (mỗi ngày 166mg, dùng trong 13 ngày). Quinidine là chất ức chế mạnh CYP2D6, sẽ làm tăng AUC của aripiprazole lên 112%, nhưng làm giảm 35% AUC của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Cần giảm nửa liều thường dùng của aripiprazole khi phối hợp.

    Các chất ức chế khác của CYP2D6, như fluoxetin, paroxetin có thể cũng có ảnh hưởng như trên và do dó cũng nên giảm liều aripiprazole. Khi ngưng dùng chất ức chế CYP2D6 trong phối hợp thuốc, có thể tăng lại liều aripiprazole.

    Carbamazepine:

    Phối hợp carbamazepine (200mg, hai lần mỗi ngày) là chất cảm ứng mạnh CYP3A4 với aripiprazole (mỗi ngày 30 mg) sẽ làm giảm 70% Cmax và giá trị AUC của cả aripiprazole và của chất chuyển hoá có hoạt tính (dehydro-aripiprazole). Khi thêm carbamazepine vào liệu pháp aripiprazole, cần tăng gấp đôi liều aripiprazole. Liều lượng thêm vào cần dựa vào đánh giá lâm sàng. Khi rút carbamazepine ra khỏi phối hợp trên, cần giảm liều aripiprazole trở lại.

    Không thấy ảnh hưởng rõ rệt của famotidine, valproat hoặc của lithium trên dược động học của aripiprazole.

    Ảnh hưởng của Aripiprazole tới các thuốc khác:

    Aripiprazole không có tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng tới các thuốc chuyển hoá qua enzym cytocrôm P450. Nghiên cứu in vivo, với liều 10-30 mg/ngày, thấy aripiprazole không ảnh hưởng tới chuyển hoá bởi các cơ chất của CYP2D6 (dextromethorphan), CYP2C9 (warfarin), CYP2C19 (omeprazole, warfarin) và CYP3A4 (dextromethorphan). Ngoài ra, aripiprazole và dehydro-aripiprazole in vitro không làm thay đổi chuyển hoá của thuốc khác qua CYP1A2.

    Rượu:

    Không có khác biệt có ý nghĩa giữa aripiprazole phối hợp với ethanol và placebo + ethanol trên biểu hiện khéo léo về vận động hoặc vè đáp ứng với các xung kích thích ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên, cũng như với nhiều thuốc tâm thần khác, bệnh nhân cần được cảnh báo không uống rượu khi đang dùng Aripiprazole.

    Tác dụng phụ:

    Độ an toàn của aripiprazole đã được đánh giá trên 7951 bệnh nhân dùng nhiều liều trong các thử nghiệm trước khi đưa ra thị trường ở người tâm thần phân liệt, cơn hưng cảm lưỡng cực và sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Tổng cộng 2280 người dùng aripiprazole được điều trị ít nhất 180 ngày và 1558 người dùng thuốc này đã dùng thuốc ít nhất 1 năm.

    Các điều kiện và thời gian điều trị với aripiprazole bao gồm mù kép, nghiên cứu mở có và không có so sánh, nghiên cứu ở bệnh nhân nội trú và ngoại trú, với các liều cố định và linh động, nghiên cứu ngắn hạn và dài hạn. Đã thu thập các tác dụng phụ qua bệnh nhân báo cáo, cũng như từ kết quả khám nghiệm bệnh nhân, dấu hiệu sống, cân nặng, phân tích labô, điện tâm đồ.

    Trong các bảng tổng kết tác dụng phụ dưới đây, các nhà nghiên cứu lâm sàng đã sử dụng từ điển danh pháp Costart cải tiến, nhằm phân loại các tác dụng phụ vào những nhóm nhỏ, với mục đích cung cấp những ước lượng có ý nghĩa về tỉ lệ các cá nhân có tác dụng phụ của thuốc.

    Tần suất các tác dụng phụ biểu hiện tỷ lệ các cá thể có ít nhất một hiện tượng có hại gặp khi điều trị đã được liệt kê trong danh mục. Một hiện tượng được xem là do điều trị khi nó xảy ra lần đầu hoặc xấu đi trong khi được điều trị.

    Bác sĩ cần lưu ý là những số liệu trong các bảng sau không thể dùng để dự đoán tần suất các tác dụng phụ trong thực hành hàng ngày do có sự khác biệt giữa bệnh nhân đang được điều trị và những bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn tùy thuộc vào cách điều trị, cách dùng thuốc và người nghiên cứu. Tuy nhiên, các số liệu dưới đây cũng có thể cung cấp một cơ sở để đánh giá về ảnh hưởng tương đối của thuốc và các yếu tố khác không phải thuốc vào tần suất của các tác dụng phụ ở quần thể nghiên cứu.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào 5 cuộc thử nghiệm có kiểm soát placebo (4 thử nghiệm 4 tuần và 1 thử nghiệm 6 tuần) mà aripiprazole được dùng với liều 2-30 mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (7%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương tự giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào một thử nghiệm 3 tuần có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực trong đó aripriprazole được sử dụng ở liều 15 hay 30mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (11%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương đương giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Những tác dụng phụ thường quan sát được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ thường quan sát được có liên quan đến việc dùng aripriprazole ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực (tần suất ≥5% và tần suất của nhóm aripriprazole ìt nhất là gấp đôi của nhóm placebo) được liệt kê ở Bảng 1. Không có tác dụng phụ nào trong thử nghiệm ngắn hạn của bệnh tâm thần phân liệt đáp ứng các tiêu chuẩn này.

    Bảng 1. Các tác dụng phụ thường gặp trong thử nghiệm ngắn hạn có kiểm soát placebo ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    % bệnh nhân báo cáo có tác dụng phụ

    Tác dụng phụ Aripriprazole Placebo

    (n=597) (n=436)

    Tổn thương ngẫu nhiên 6 3

    Táo bón 13 6

    Nằm ngồi không yên 15 4

    Tác dụng phụ do liều lượng:

    Tâm thần phân liệt:

    Sự liên quan giữa đáp ứng với liều về tần suất các tác dụng phụ do dùng thuốc đã được đánh giá trong 4 thử nghiệm trên bệnh nhân tâm thần phân liệt so sánh các liều cố định (2-10-15-20 và 30mg/ ngày) của aripiprazole so với placebo. Phân tích cho thấy chỉ có một tác dụng phụ là có thể liên quan tới đáp ứng liều lượng và chỉ nổi bật với liều 30mg, đó là buồn ngủ (placebo: 7,7%; 15mg: 8,7%; 20mg: 7,5%; 30mg: 15,3%).

    Triệu chứng ngoại tháp (EPS):

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, tần suất các EPS ở người dùng aripiprazole là 6% so với ở placebo là 6%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất các tác dụng phụ liên quan đến EPS, ngoại trừ chứng nằm ngồi không yên, ở người dùng aripiprazole là 17% so với ở placebo là 12%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất bị chứng nằm ngồi không yên ở người dùng aripriprazole là 15% so với ở placebo là 4%. Các dữ liệu khách quan thu thập được trong các thử nghiệm này dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barmes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assessments of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) cũng không cho thấy sự khác biệt giữa aripiprazole với placebo, ngoại trừ thang điểm Barmes Akathisia Scale (aripiprazole: 0,08; placebo: -0,05).

    Tương tự, trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, các dữ liệu khách quan thu thập được dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barnes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assesment of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) không cho thấy có khác biệt giữa aripiprazole và placebo.

    Bất thường về các thử nghiệm trong labô:

    So sánh giữa 2 nhóm trong 3-6 tuần trong các thử nghiệm có kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa nhóm dùng thuốc và nhóm placebo về tỷ lệ các bệnh nhân có những thay đổi đáng kể về phương diện lâm sàng trong các thông số thường quy về hoá sinh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu. Đồng thời, không có khác biệt giữa aripiprazole với placebo về tỷ lệ ngừng thuốc do thay đổi về hoá sinh huyết thanh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu.

    Trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần), có kiểm soát placebo, không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa 2 nhóm dùng aripiprazole và placebo về sự thay đổi trung bình so với mức cơ bản của prolactin, glucose-máu khi đói, triglyceride, HDL-C, LDL-C và cholesterol toàn phần trong máu.

    Tăng thể trọng:

    Trong thử nghiệm ngắn ngày 4-6 tuần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, chỉ có khác biệt nhỏ về tăng thể trọng trung bình giữa nhóm aripiprazole và nhóm placebo (+0,7kg so với -0,05kg) và cũng có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng (ở nhóm dùng thuốc là 8% so với nhóm placebo 3%). Trong thử nghiệm ngắn ngày 3 tuần trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tăng cân trung bình của nhóm dùng aripriprazole là 0,0kg so với -0,2kg ở nhóm dùng placebo. Tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng là 3% ở nhóm dùng aripriprazole so với ở nhóm dùng placebo là 2%.

    Bảng 3 cung cấp các kết quả về thay đổi thể trọng khi dùng thuốc dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, cả sự thay đổi trung bình so với mức độ cơ bản và tỷ lệ các bệnh nhân tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng so với mức cơ bản, dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI) ở mức cơ bản:

    Thay đổi về điện tâm đồ:

    So sánh giữa các nhóm trong các thử nghiệm kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt rõ rệt giữa các nhóm aripiprazole và placebo về tỷ lệ bệnh nhân có thay đổi quan trọng về các thông số điện tâm đồ; trong thực tế, giữa khoảng liều 10-30mg/ngày, thấy aripiprazole có khuynh hướng làm ngắn đoạn QT. Aripiprazole làm tăng nhịp tim (trung bình 4 nhịp/phút) so với 1 nhịp/phút ở nhóm placebo.

    Những ghi nhận thêm khi thử nghiệm lâm sàng:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm dài ngày, mù kép, có kiểm soát placebo:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm 26 tuần, mù kép, so sánh Aripiprazole với placebo thường phù hợp với các hiện tượng thường gặp ở các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo, trừ tần suất cao hơn về run [9% (13/153) với Aripiprazole so với 1% (2/153) ở placebo]. Trong nghiên cứu này, phần lớn các trường hợp run có cường độ thấp (9/13 nhẹ và 4/13 trung bình), xảy ra sớm khi điều trị (9/13 trong ≤49 ngày) và cũng không tồn tại lâu (9/13 ≤10 ngày). Run ít khi phải ngừng thuốc (Các tác dụng phụ khác trong khi đánh giá aripiprazole trước khi đưa ra thị trường:

    Cần lưu ý là mặc dầu các hiện tượng được báo cáo trong khi điều trị với aripiprazole cũng không nhất thiết là do thuốc này gây nên. Các hiện tượng được nêu theo hệ cơ quan và sắp xếp theo tần số giảm dần dựa theo các định nghĩa sau: các hiện tượng có hại hay gặp là ở ít nhất 1% bệnh nhân; các hiện tượng ít gặp là ở từ 1% đến 0,1% bệnh nhân; các hiện tượng hiếm gặp xảy ra cho ít hơn 1/1000 bệnh nhân.

    Toàn cơ thể:

    Hay gặp: hội chứng giống cúm, đau ngực, cứng cổ, cứng đầu chi, đau cổ, đau vùng chậu.

    Ít gặp: phù mặt, ý tưởng tự vẫn, khó ở, nhức nửa đầu, ớn lạnh, nhạy cảm ánh sáng, cảm giác căng cứng (ở bụng, ngực, lưng, đầu chi, đầu, hàm, cổ, lưỡi) đau hàm, đầy bụng, căng bụng, căng ngực, đau họng.

    Hiếm: moniliase, nặng đầu, sưng họng, hội chứng Mendelson, đột qụy.

    Hệ tim mạch:

    Hay gặp: nhịp tim nhanh (bao gồm nhịp nhanh thất và trên thất), hạ huyết áp, nhịp tim chậm.

    Ít gặp: đánh trống ngực, chảy máu, suy tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim, rung nhĩ, blốc nhĩ thất, kéo dài đoạn QT, ngoại tâm thu, thiếu máu cục bộ cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực, xanh xao, ngưng tim ngưng thở, viêm tĩnh mạch.

    Hiếm: blốc nhánh, cuồng động nhĩ, tim to, viêm tĩnh mạch huyết khối, suy tim – hô hấp.

    Hệ tiêu hoá:

    Hay gặp: buồn nôn, nôn.

    Ít gặp: tăng thèm ăn, nuốt khó, viêm dạ dày – ruột, đầy bụng, sâu răng, viêm dạ dày, viêm lợi, xuất huyết tiêu hóa, trĩ, trào ngược dạ dày – thực quản, áp xe quanh răng, đại tiện không kiềm chế được, chảy máu trực tràng, viêm miệng, viêm ruột kết, phù lưỡi, viêm túi mật, loét miệng, moniliase miệng, ợ hơi, chèn ép phân.

    Hiếm: viêm thực quản, ói máu, tắc ruột, chảy máu lợi, viêm gan, loét đường tiêu hóa, viêm lưỡi, tiêu ra máu, loét tá tràng, viêm môi, gan to, viêm tụy.

    Hệ nội tiết:

    Ít gặp: suy giáp.

    Hiếm: bướu giáp, cường giáp.

    Hệ máu / Bạch huyết:

    Hay gặp: bầm máu, thiếu máu.

    Ít gặp: thiếu máu nhược sắc, tăng bạch cầu, giảm bạch cầu (kể cả giảm bạch cầu trung tính), bệnh hạch bạch huyết, tăng bạch cầu ưa eosin, thiếu máu đại hồng cầu.

    Hiếm: giảm tiểu cầu, tăng tạo tiểu cầu, đốm xuất huyết.

    Rối loạn chuyển hoá / dinh dưỡng:

    Hay gặp: giảm cân, tăng creatin – phosphokinase, mất nước.

    Ít gặp: phù, tăng đường huyết, tăng cholesterol máu, giảm kali máu, đái tháo đường, hạ đường huyết, tăng lipid máu, tăng SGPT, khát, tăng BUN, hạ natri máu, tăng SGOT, tăng creatinin, tím xanh, tăng phosphatase kiềm, bilirubin máu, thiếu máu thiếu sắt, tăng kali máu, tăng acid uric máu, béo phì.

    Hiếm: tăng lactic-delydrogenase, tăng natri máu, gút, phản ứng hạ đường huyết.

    Hệ cơ xương:

    Hay gặp: Chuột rút.

    Ít gặp: đau khớp, nhược cơ, bệnh khớp, đau xương, viêm khớp, yếu cơ, co thắt cơ, viêm túi thanh mạc, bệnh cơ.

    Hiếm: viêm khớp dạng thấp, tiêu cơ vân, viêm gân, viêm bao hoạt dịch.

    Hệ thần kinh:

    Hay gặp: trầm cảm, kích động, phản ứng tâm thần phân liệt, ảo giác, chống đối, lẫn lộn, phản ứng hoang tưởng, ý tưởng tự vẫn, dáng đi bất thường, phản ứng hưng cảm, giấc mơ bất thường.

    Ít gặp: cảm xúc thất thường, co giật, co cứng các chi, mất tập trung, rối loạn trương lực, giãn mạch, dị cảm, bất lực, run chân tay, giảm cảm giác, chóng mặt, trạng thái ngẩn ngơ, vận động chậm, lãnh đạm, tấn công hoảng loạn, giảm dục năng, ngủ nhiều, rối loạn vận động, phản ứng hưng cảm-trầm cảm, thất điều, ảo giác về thị giác, tai biến mạch não, vận động chậm chạp, mất nhân cách, mất trí nhớ, mê sảng, loạn vận ngôn, rối loạn vận động muộn, hay quên, tăng dục năng, máy cơ, bồn chồn không yên, bệnh thần kinh, cảm giác khó chịu, tăng động, thiếu máu cục bộ não, tăng phản xạ, mất vận động, giảm nhận thức, tăng cảm giác, suy nghĩ chậm chạp.

    Hiếm: cảm giác cùn mòn, sảng khoái, mất điều hoà động tác, cơn tăng vận nhãn, bị ám ảnh, giảm trương lực, hội chứng miệng-hầu, giảm phản xạ, mất thực tế, chảy máu trong sọ.

    Hệ hô hấp:

    Hay gặp: viêm xoang, khó thở, viêm phổi, hen.

    Ít gặp: chảy máu cam, nấc, viêm thanh quản, viêm phổi do hít.

    Hiếm: phù phổi, tăng tiết đờm, tắc mạch phổi, thiếu oxy, suy hô hấp, ngừng thở, khô mũi, ho ra máu.

    Da và phần phụ da:

    Hay gặp: loét da, chảy mồ hôi, da khô.

    Ít gặp: ngứa, phát ban phù nhú, trứng cá, chàm, mất màu da, rụng tóc, tăng tiết bã nhờn, vảy nến.

    Hiếm: ban sần, viêm da tróc vảy, mày đay.

    Giác quan:

    Hay gặp: viêm kết mạc.

    Ít gặp: đau tai, khô mắt, đau mắt, ù tai, cườm mắt, viêm tai giữa, giảm vị giác, viêm mi mắt, chảy máu mắt, điếc.

    Hiếm: nhìn đôi, hay nháy mắt, sa mí mắt, viêm tai ngoài, giảm thị lực, sợ ánh sáng.

    Hệ tiết niệu:

    Hay gặp: đái không kìm được.

    Ít gặp: hay tiểu tiện, khí hư, bí tiểu, viêm bàng quang, đái ra máu, tiểu khó, mất kinh, chảy máu âm đạo, xuất tinh bất thường, suy thận, moniliase âm đạo, bệnh thận, vú to ở đàn ông, sỏi thận, albumin niệu, đau vú, tiểu đau.

    Hiếm: đái đêm, tiểu nhiều, rong kinh, không đạt cực khoái khi hoạt động tình dục, đường niệu, viêm cổ tử cung, chãy máu tử cung, chảy sữa ở nữ, sỏi niệu, cương đau dương vật.

    Chú ý đề phòng:

    Hội chứng an thần ác tính:

    Đã có báo cáo về một hội chứng có khả năng gây tử vong đôi khi được quy là hội chứng an thần ác tính khi dùng các thuốc chống loạn thần, kể cả aripiprazole. Hai trường hợp có thể là hội chứng an thần ác tính đã xảy ra trong khi dùng aripiprazole trong cơ sở dữ liệu lâm sàng toàn thế giới trước khi đưa thuốc ra thị trường. Các biểu hiện lâm sàng gồm sốt cao, cứng đờ cơ, trạng thái tâm thần thay đổi, và biểu hiện không ổn định về thần kinh tự chủ (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi và loạn nhịp tim). Các dấu hiệu phụ có thể gồm: tăng creatin phosphokinase, myoglobin niệu, suy thận cấp.

    Việc chẩn đoán hội chứng này phức tạp. Để chẩn đoán, cần loại ra những trường hợp có biểu hiện lâm sàng gồm bệnh nặng (như viêm phổi, nhiễm khuẩn toàn thân…) và các dấu hiệu, triệu chứng ngoại tháp không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ. Những điều cần quan tâm khác trong chẩn đoán phân biệt gồm độc tính ức chế thần kinh phó giao cảm trung tâm, cảm nhiệt, sốt do thuốc, và bệnh hệ thần kinh trung ương nguyên phát.

    Việc điều trị hội chứng an thần ác tính có thể gồm:

    – Ngưng lập tức thuốc chống loạn thần và các thuốc khác không cần cho liệu pháp phối hợp.

    – Điều trị triệu chứng và theo dõi tình hình bệnh.

    – Điều trị mọi vấn đề y khoa nghiêm trọng đồng thời với những liệu pháp đặc hiệu.

    Không có sự thống nhất chung về các chế độ điều trị dùng thuốc đặc hiệu đối với hội chứng an thần ác tính không phức tạp.

    Nếu một bệnh nhân cần điều trị với thuốc chống loạn thần sau khi phục hồi khỏi hội chứng an thần ác tính, cần cân nhắc việc dùng thuốc trở lại. Cần theo dõi bệnh nhân, vì đã có báo cáo về những tái phát của hội chứng an thần ác tính.

    Loạn vận động muộn:

    Một hội chứng các cử động loạn vận động không tùy ý có khả năng không phục hồi có thể xảy ra ở bệnh nhân điều trị với các thuốc chống loạn thần. Mặc dù tỷ lệ của hội chứng có vẻ cao nhất ở những người cao tuổi, đặc biệt ở phụ nữ cao tuổi, tuy nhiên không thể dùng nó để tiên đoán khi bắt đầu liệu pháp chống loạn thần rằng bệnh nhân nào có khả năng bị hội chứng này. Các chế phẩm thuốc chống loạn thần có khác nhau về khả năng gây loạn vận động muộn hay không, điều này chưa được biết rõ.

    Người ta cho rằng nguy cơ xảy ra loạn vận động muộn và khả năng loạn vận động trở nên không phục hồi tăng lên khi thời gian điều trị và tổng liều tích lũy của thuốc chống loạn thần dùng cho bệnh nhân tăng lên. Tuy vậy, hội chứng cũng có thể xảy ra, mặc dầu ít gặp hơn nhiều, sau thời gian điều trị tương đối ngắn ở liều thấp.

    Chưa có trị liệu chuyên biệt đối với các trường hợp loạn vận động đã được xác định, tuy nhiên hội chứng có thể tự thuyên giảm, một phần hoặc hoàn toàn, nếu ngừng trị liệu chống loạn thần. Tuy vậy, bản thân trị liệu chống loạn thần có thể chặn (hoặc chặn một phần) các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng và do đó, có thể che dấu những diễn tiến bên trong. Hiện chưa biết rõ tác dụng của việc chặn các triệu chứng trên quá trình diễn biến dài hạn của hội chứng.

    Dựa trên những cân nhắc này, có thể chỉ định sử dụng Aripiprazole một cách phù hợp để giảm thiểu xảy ra loạn vận động muộn. Nói chung, nên dành trị liệu chống loạn thần lâu dài cho các bệnh nhân bị bệnh mạn tính được biết là có đáp ứng với thuốc chống loạn thần, và các liệu pháp khác có hiệu quả tương đương, nhưng có thể ít nguy hại hơn đối với bệnh đó thì lại không có hoặc không thích hợp. Đối với các bệnh nhân cần điều trị lâu dài, nên tìm ra liều nhỏ nhất và thời gian điều trị ngắn nhất mà cho hiệu quả lâm sàng tốt. Nhu cầu điều trị tiếp tục cần được định kỳ đánh giá lại.

    Nếu các dấu hiệu và triệu chứng của loạn vận động muộn xuất hiện ở một bệnh nhân đang điều trị với Aripiprazole, nên xem xét việc ngừng thuốc. Tuy nhiên, mặc dầu có hội chứng, một số bệnh nhân vẫn cần được điều trị với Aripiprazole.

    Thận trọng lúc dùng:

    Thận trọng chung:

    Hạ huyết áp tư thế:

    Aripiprazole có thể gây hạ huyết áp tư thế, có thể do sự đối kháng của thuốc với thụ thể giao cảm alpha1. Tần suất của các hiện tượng liên quan đến hạ huyết áp tư thế được rút ra từ 5 thử nghiệm ngắn hạn có kiểm chứng với placebo, ở bệnh tâm thần phân liệt (n=926) được điều trị với Aripiprazole bao gồm: hạ huyết áp tư thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 1,9%, chóng mặt thế đứng (placebo 1%, aripiprazole 0,9%), và ngất (placebo 1%, aripiprazole 0,6%). Tỉ lệ của sự thay đổi huyết áp tư thế có ý nghĩa (được xác định là sự giảm ít nhất 30 mmHg về huyết áp tâm thu khi thay đổi từ tư thế nằm ngửa sang đứng) đối với aripiprazole không khác nhau có ý nghĩa so với placebo (14%) trong các bệnh nhân điều trị với aripiprazole và 12% trong các bệnh nhân điều trị với placebo).

    Dùng aripiprazole một cách thận trọng ở bệnh nhân đã được biết có bệnh tim mạch (tiền sử nhồi máu cơ tim, thiếu máu cục bộ tim, suy tim và những bất thường về dẫn truyền), bệnh mạch máu não hoặc các điều kiện dẫn tới giảm huyết áp (như mất nước, mất máu và điều trị với các thuốc chống tăng huyết áp).

    Cơn động kinh:

    Động kinh gặp ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng aripiprazole ngắn ngày, trong thử nghiệm so sánh placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 0,3% (2/597) bệnh nhân dùng aripiprazole và 0,2% (1/436) bệnh nhân dùng placebo bi động kinh. Cũng như với các thuốc tâm thần khác, cần dùng thận trọng aripiprazole ở người có tiền sử động kinh hoặc có các điều kiện làm giảm ngưỡng động kinh, ví dụ sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Các điều kiện làm giảm ngưỡng cơn động kinh có thể trội ở người cao tuổi ≥65 tuổi.

    Suy giảm nhận thức và vận động:

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, thấy buồn ngủ có ở 11% bệnh nhân nhóm Aripiprazole so với 8% ở nhóm placebo. Buồn ngủ phải ngừng thuốc ở 0,1% (1/926) bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng Aripiprazole trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo. Trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn có kiểm soát, so sánh với placebo, trên bệnh nhân bị hưng cảm lưỡng cực, có 14% bệnh nhân dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với tỉ lệ là 7% ở bệnh nhân dùng placebo, nhưng không có trường hợp nào khiến bệnh nhân phải ngưng thuốc. Mặc dầu tỷ lệ buồn ngủ hơi tăng hơn placebo, Aripiprazole cũng như các thuốc chống loạn thần khác cũng có thể làm suy giảm nhận thức hoặc sự khéo léo về vận động. Bệnh nhân cần thận trọng khi thao tác các máy móc dễ bị rủi ro, như lái xe, cho đến khi chắc chắn rằng dùng Aripiprazole không gây tác hại.

    Điều hoà thân nhiệt:

    Thuốc tâm thần có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng làm giảm thân nhiệt của cơ thể. Cần thận trọng khi kê đơn aripiprazole cho bệnh nhân trong điều kiện dẫn tới tăng thân nhiệt, ví dụ lao động quá căng thẳng, nhiệt độ môi trường quá cao, phối hợp với các thuốc kháng cholinergic hoặc bị mất nước.

    Khó nuốt:

    Rối loạn co bóp thực quản và sặc hay gặp khi dùng thuốc chống loạn thần. Viêm phổi do sặc là nguyên nhân hay gặp của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi, đặc biệt ở người sa sút trí tuệ Alzheimer. Cần dùng thận trọng aripiprazole và các thuốc chống loạn thần khác ở người có nguy cơ viêm phổi do sặc.

    Tự vẫn:

    Ý định tự vẫn vốn dễ có ở người bệnh tâm thần và cần lưu ý chặt chẽ đến bệnh nhân có nguy cơ cao trong khi dùng thuốc. Khi kê toa Aripiprazole, cần kê lượng ít nhất phù hợp với nguyên tắc điều trị bệnh nhân tốt để giảm nguy cơ quá liều.

    Sử dụng ở bệnh nhân có kèm bệnh khác:

    Độ an toàn ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh loạn thần kèm bệnh Alzheimer:

    Với liều linh động (2-15mg/ngày), dùng trong 10 tuần, có kiểm soát placebo, dùng aripiprazole ở người cao tuổi [81,5 (56-95) tuổi] bị loạn thần kèm bệnh Alzheimer. Có 4/105 bệnh nhân (3,8%) dùng Aripiprazole bị tử vong so với không có ai chết ở 102 người dùng placebo trong vòng 30 ngày sau khi kết thúc giai đoạn mù kép của nghiên cứu. Có 3 bệnh nhân (tuổi: 92, 91, 87) tử vong sau khi ngừng Aripiprazole ở pha mù kép của nghiên cứu (nguyên nhân tử vong là viêm phổi, suy tim và sốc). Bệnh nhân thứ tư (78 tuổi) tử vong sau khi phẫu thuật hông trong khi đang ở giai đoạn mù đôi của nghiên cứu. Các hiện tượng có hại do thuốc có tần suất ≥5% và có tần suất cao hơn ở nhóm placebo là tổn thương do tai nạn, buồn ngủ và viêm phế quản. Có 8% người dùng Aripiprazole bị buồn ngủ so với 1% ở nhóm placebo. Trong một nghiên cứu nhỏ, mở, với liều tăng dần (n = 30) ở người già sa sút trí tuệ, thấy Aripiprazole gây buồn ngủ phụ thuộc liều dùng.

    Chưa đánh giá được hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng điều trị người loạn thần kèm sa sút trí tuệ. Khi kê đơn Aripiprazole cho những đối tượng này, cần đặc biệt cảnh giác nếu bệnh nhân có khó khăn về nuốt hoặc quá buồn ngủ.

    Kinh nghiệm lâm sàng với Aripiprazole ở bệnh nhân có bệnh toàn thân kèm theo còn hạn chế.

    Chưa đánh giá sử dụng Aripiprazole ở bệnh nhân vừa có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim không ổn định.

    Sử dụng trong nhi khoa:

    Chưa xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc đối với trẻ em và thanh niên.

    Sử dụng trong lão khoa:

    Thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường trên 7951 bệnh nhân dùng aripiprazole, trong số đó có 991 (12%) người trên 65 tuổi và 789 (10%) trên 75 tuổi. Phần lớn (88%) trong số 991 bệnh nhân được chẩn đoán là sa sút trí tuệ Alzheimer.

    Nghiên cứu có kiểm soát placebo về việc sử dụng aripiprazole ở người tâm thần phân liệt hoặc hưng cảm lưỡng cực không có đủ số lượng những người ≥65 tuổi để xác định xem họ có đáp ứng khác người trẻ tuổi không? Không có ảnh hưởng của tuổi tác đến dược động học của đơn liều 15mg aripiprazole. Độ thanh lọc của thuốc này giảm 20% ở người cao tuổi (> 65 tuổi) so với người trẻ tuổi (18-64 tuổi), nhưng không tìm thấy ảnh hưởng của tuổi khi phân tích dược động học theo quần thể ở người tâm thần phân liệt.

    Nghiên cứu trên người cao tuổi bị bệnh loạn thần kèm Alzheimer cho thấy có thể có khả năng dung nạp khác nhau ở các đối tượng này so với người trẻ bị tâm thần phân liệt. Hiệu lực và độ an toàn của Aripiprazole dùng chữa bệnh nhân loạn thần kèm theo Alzheimer chưa được xác định. Bác sĩ nên cảnh giác khi chọn Aripiprazole cho các đối tượng này.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    Lúc có thai:

    Nghiên cứu trên động vật, aripiprazole gây độc tính cho thai, bao gồm khả năng gây quái thai ở chuột cống và thỏ.

    Chuột cống có thai dùng liều uống 3-10-30 mg/kg/ngày (gấp 1-3-10 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole trong thời kỳ tạo cơ quan.

    Thời kỳ thai nghén có kéo dài chút ít với liều 30 mg/kg. Thuốc làm trì hoãn sự phát triển thai, với bằng chứng là làm giảm cân nặng thai (30 mg/kg), tinh hoàn không đi xuống (30 mg/kg), làm chậm sự hoá xương (10 và 30 mg/kg). Thuốc không có tác dụng có hại trên tỷ lệ sống sót của phôi thai và động vật mới sinh. Động vật mới sinh có giảm cân nặng (10 và 30 mg/kg) và tăng tần suất bị các nốt ở gan – cơ hoành và thoát vị hoành ở liều 30 mg/kg (các nhóm với liều khác không gặp các triệu chứng này). Một tần suất thấp về thoát vị hoành cũng gặp ở thai khi động vật mẹ dùng 30 mg/kg. Sau khi sinh, thấy chậm mở âm đạo với liều 10 và 30 mg/kg và khả năng sinh sản bị suy giảm (giảm tỉ lệ thụ thai, hoàng thể, làm tổ của trứng và số thai sống sót, tăng mất mát sau khi làm tổ) với liều 30 mg/kg. Một số độc tính với mẹ xảy ra với liều 30 mg/kg, tuy nhiên không có chứng cớ rằng các tác dụng về sự phát triển thai là thứ phát sau độc tính của thuốc với mẹ.

    Thỏ có thai uống các liều 10-30 và 100mg/kg/ngày (gấp 2-3 và 11 lần MRHD dựa vào AUC và 6-19 và 65 lần MRHD dựa vào mg/m2) của aripiprazole trong thời gian tạo cơ quan của thai. Thỏ mẹ giảm ăn uống và tăng sảy thai với liều 100 mg/kg. Dùng thuốc làm tăng tỉ lệ tử vong của thai nhi (100mg/kg), làm giảm cân nặng thai (30 và 100 mg/kg), tăng tần suất bất thường về bộ xương (đốt xương ức gắn vào nhau ở liều 30 và 100 mg/kg) và có thay đổi nhẹ ở bộ xương (100 mg/kg).

    Trong một nghiên cứu với chuột cống uống 3-10-30 mg/kg/ngày (gấp 1-3-10 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole chu sinh và sau sinh (từ ngày 17 của thai kỳ tới ngày 21 sau khi sinh), có độc tính nhẹ với chuột mẹ và kéo dài thời kỳ mang thai với liều 30 mg/kg. Chết ngay khi sinh tăng, giảm cân nặng chuột sơ sinh (kéo dài tới khi chuột lớn lên) và giảm sống còn xảy ra ở liều 30 mg/kg.

    Chưa có các nghiên cứu đầy đủ, có kiểm soát chặt ở người mang thai. Không rõ aripiprazole có gây tác hại cho thai khi dùng cho phụ nữ mang thai hoặc có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không? Chỉ dùng aripiprazole khi mang thai khi lợi ích cho mẹ vượt hẳn nguy cơ có thể có cho thai.

    Chuyển dạ và sinh đẻ:

    Tác dụng của aripiprazole đối với thời kỳ chuyển dạ và sinh đẻ ở người chưa được biết rõ.

    Lúc nuôi con bú:

    Aripiprazole bài tiết qua sữa chuột cống trong thời kỳ cho con bú. Chưa rõ aripiprazole và các chất chuyển hoá có qua sữa người hay không? Bà mẹ dùng aripiprazole phải ngừng cho con bú.

    Thông tin thành phần Aripiprazol

    Dược lực:

    Aripiprazole có ái lực cao đối với thụ thể của dopamin D2 và D3, serotonin 5-HT1A và 5-HT2A (các trị số Ki lần lượt là 0,34; 0,8; 1,7 và 3,4nM); có ái lực trung bình đối với thụ thể của dopamin D4, serotonin 5-HT2C và 5-HT7, thụ thể giao cảm alpha1 và thụ thể histamin H1 (các trị số Ki lần lượt là 44; 15; 39; 57 và 61nM); và có ái lực trung bình đối với vị trí tái nhận serotonin (Ki = 98nM). Aripiprazole không có ái lực đáng kể đối với thụ thể phó giao cảm của muscarin (IC50 > 1000nM).

    Aripiprazole tác động như chất chủ vận một phần ở các thụ thể của dopamin D2 và của serotonin 5-HT1A, và là chất đối kháng ở thụ thể của serotonin 5-HT2A.

    Chưa rõ cơ chế tác dụng của aripiprazole, cũng như các thuốc khác có hiệu quả đối với tâm thần phân liệt và hưng cảm lưỡng cực. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng hiệu quả của aripiprazole là do phối hợp hoạt tính chủ vận một phần ở các thụ thể D2 và 5-HT1A với hoạt tính đối kháng ở các thụ thể 5-HT2A. Tác dụng ở các thụ thể khác ngoài D2, 5-HT1A và 5-HT2A có thể giải thích được một số tác dụng lâm sàng khác của aripiprazole, ví dụ hạ huyết áp tư thế ghi nhận với aripiprazole có thể được giải thích bởi tác dụng đối kháng của thuốc ở các thụ thể giao cảm alpha1.

    Dược động học :

    Hoạt tính của Aripiprazole có thể chủ yếu do chất thuốc gốc, aripiprazole, và ở mức độ ít hơn do chất chuyển hoá chính là dehydro-aripiprazole, được chứng minh có ái lực đối với thụ thể D2 tương tự như thuốc gốc và chiếm 40% lượng thuốc gốc trong huyết tương. Thời gian bán thải trung bình khoảng 75 giờ đối với aripiprazole và 94 giờ đối với dehydro-aripiprazole. Các nồng độ ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 14 ngày dùng thuốc đối với cả hai dạng có hoạt tính. Có thể dự đoán sự tích luỹ của aripiprazole từ dược động học của một liều. Ở trạng thái ổn định, dược động học của aripiprazole tỷ lệ thuận với liều lượng. Aripiprazole đào thải chủ yếu qua chuyển hoá ở gan với sự tham gia của hai iso-enzym P450 là CYP2D6 và CYP3A4.

    Hấp thu:

    Aripiprazole hấp thu tốt, nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện trong vòng 3 đến 5 giờ, khả dụng sinh học khi uống của dạng viên nén là 87%. Có thể uống Abilify cùng hoặc không cùng thức ăn. Uống viên nén 15mg Abilify với một bữa ăn có nhiều mỡ theo tiêu chuẩn không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ tối đa (Cmax) hoặc diện tích dưới đường cong (AUC) của aripiprazole hoặc của chất chuyển hoá có hoạt tính, dehydro-aripiprazole, nhưng làm chậm Tmax 3 giờ đối với aripiprazole và 12 giờ đối với dehydro-aripiprazole.

    Phân bố:

    Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định của aripiprazole sau khi tiêm tĩnh mạch là cao (404L hoặc 4,9L/kg), cho thấy sự phân bố rộng ngoài mạch máu. Ở nồng độ điều trị, hơn 99% aripiprazole và chất chuyển hoá chủ yếu được gắn kết với protein huyết thanh, chủ yếu vào albumin. Người tình nguyện khoẻ mạnh uống 0,5 đến 30mg/ngày aripiprazole trong 14 ngày, có sự chiếm giữ thụ thể D2 phụ thuộc vào liều cho thấy sự thâm nhập của aripiprazole vào não ở người.

    Chuyển hoá và đào thải:

    Aripiprazole được chuyển hoá chủ yếu bởi 3 quá trình biến đổi sinh học: khử hydro, hydroxyl hoá và khử N-alkyl. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, các enzym CYP3A4 và CYP2D6 chịu trách nhiệm về sự khử hydro và hydroxyl hoá aripiprazole, và sự khử N-alkyl được xúc tác bởi CYP3A4. Aripiprazole là phần thuốc chiếm ưu thế trong tuần hoàn chung. Ở trạng thái ổn định, dehydro-aripiprazole, chất chuyển hoá có hoạt tính, đạt vào khoảng 40% của AUC của aripiprazole trong huyết tương.

    Khoảng 8% số người da trắng không có khả năng chuyển hoá các cơ chất của CYP2D6 và được xếp loại là những người chuyển hoá kém (PM), trong khi những người còn lại là những người chuyển hoá mạnh (EM). Những người chuyển hoá yếu có lượng aripiprazole tiếp xúc tăng khoảng 80% và lượng chất chuyển hoá có hoạt tính tiếp xúc giảm khoảng 30% so với những người chuyển hoá mạnh, dẫn tới tăng khoảng 60% sự tiếp xúc với toàn bộ các phần có hoạt tính từ một liều aripiprazole so với những người chuyển hoá mạnh. Việc dùng đồng thời Abilify với các chất ức chế CYP2D6 đã biết, như quinidin ở người chuyển hoá mạnh, dẫn đến tăng 112% sự tiếp xúc với aripiprazole trong huyết tương, và cần điều chỉnh liều dùng thuốc (xem Tương tác thuốc). Người chuyển hoá mạnh và người chuyển hoá kém có thời gian bán thải trung bình đối với aripiprazole tương ứng là 75 giờ và 146 giờ. Aripiprazole không ức chế hoặc gây cảm ứng quá trình của CYP2D6.

    Sau khi cho uống một liều aripiprazole có đánh dấu [14C], ghi nhận có khoảng 25% và 55% liều có đánh dấu phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và phân. Dưới 1% của aripiprazole không đổi được bài tiết trong nước tiểu và khoảng 18% liều uống được bài tiết qua phân dưới dạng hoạt chất không bị biến đổi.

    Các quần thể đặc biệt:

    Nói chung, không cần phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc, tình trạng hút thuốc, chức năng gan hoặc chức năng thận của bệnh nhân (xem Liều lượng và Cách dùng). Dược động học của aripiprazole ở các quần thể đặc biệt được mô tả dưới đây:

    Suy gan:

    Trong nghiên cứu một liều duy nhất (15mg aripiprazole), ở các đối tượng có xơ gan ở mức độ khác nhau (các loại A, B, C Child-Pugh), AUC của aripiprazole, so với đối tượng khoẻ mạnh, tăng 31% ở bệnh nhân suy gan nhẹ, tăng 8% ở bệnh nhân suy gan vừa, và giảm 20% ở bệnh nhân suy gan nặng. Không có sự khác nhau nào cần điều chỉnh liều.

    Suy thận:

    Ở bệnh nhân suy thận nặng (Clcr Người cao tuổi:

    Trong nghiên cứu dược động học liều duy nhất (với một liều aripiprazole 15mg, sự thanh lọc aripiprazole thấp hơn 20% ở người cao tuổi (≥65 tuổi) so với người lớn trẻ hơn (18 đến 64 tuổi). Tuy nhiên, không thấy có ảnh hưởng do tuổi trong phân tích dược động học theo quần thể ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. Cũng vậy, dược động học của aripiprazole sau nhiều liều ở bệnh nhân cao tuổi được ghi nhận tương tự như ở người trẻ khoẻ mạnh. Không cần chỉnh liều đối với bệnh nhân cao tuổi.

    Giới tính:

    Cmax và AUC của aripiprazole và chất chuyển hoá có hoạt tính, dehydro-aripiprazole, cao hơn 30 đến 40% ở phụ nữ so với nam giới, và tương ứng, sự thanh thải đường uống biểu kiến của aripiprazole thấp hơn ở phụ nữ. Tuy vậy, những khác nhau này được giải thích phần lớn bởi sự khác nhau về thể trọng (khoảng 25%) giữa nam giới và phụ nữ. Không cần chỉnh liều theo giới tính.

    Chủng tộc:

    Mặc dù không có nghiên cứu dược động học riêng để khảo sát ảnh hưởng của chủng tộc trên sự phân bố của aripiprazole, nhưng nghiên cứu dược động học theo quần thể cho thấy không có sự khác nhau có liên quan với chủng tộc có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong dược động học của aripiprazole. Không cần chỉnh liều theo chủng tộc.

    Hút thuốc:

    Dựa trên các nghiên cứu dùng các enzym của gan người in vitro, aripiprazole không phải là chất nền của CYP1A2 và cũng không bị glucuronyl hoá trực tiếp. Do đó, việc hút thuốc không có ảnh hưởng trên dược động học của aripiprazole. Phù hợp với các kết quả in vitro này, việc nghiên cứu dược động học theo quần thể không phát hiện thấy sự khác nhau về dược động học nào có ý nghĩa giữa người hút thuốc và người không hút thuốc. Không cần chỉnh liều dựa trên tình trạng hút thuốc.

    Độc tính

    Độc tính trên động vật:

    Aripiprazole gây thoái hoá võng mạc ở chuột cống trong nghiên cứu độc tính trường diễn 26 tuần với liều 60 mg/kg/ngày và trong nghiên cứu gây ung thư kéo dài 2 năm với liều 40 và 60 ng/kg/ngày. Liều 40 và 60 mg/kg là gấp 13 và 19 lần liều tối đa dành cho người (MRHD) dựa vào mg/m2 và gấp 7 và 14 lần liều MRHD cho người dựa vào AUC.

    Đánh giá về tổn thương võng mạc ở khỉ và chuột nhắt không thấy có chứng cớ về thoái hoá võng mạc. Chưa tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá về cơ chế gây độc tính. Sự liên quan giữa kết quả này với nguy cơ ở người chưa được biết.

    An toàn tiền lâm sàng

    Gây ung thư:

    Nghiên cứu độc tính gây ung thư trên chuột nhắt và chuột cống. Dùng aripiprazole trong 2 năm, trộn lẫn vào thức ăn với các liều 1-3-10-30 mg/kg/ngày cho chuột nhắt và 1-3-10 mg/kg/ngày cho chuột cống [bằng 0,2 tới 5 lần và 0,3 tới 3 lần liều tối đa cho người (MRHD) dựa vào mg/m2]. Ngoài ra, chuột cống chủng SD thì cho uống trong 2 năm với liều 10-20-40-60 mg/kg/ngày (gấp 3 đến 19 lần MRHD dựa vào mg/m2). Aripiprazole không gây u ở chuột nhắt đực và chuột cống đực. Trên chuột nhắt cái, thấy có tăng tần số u tuyến yên và ung thư tuyến vú và u gai tuyến vú với liều hàng ngày 3-30 mg/kg (bằng 0,1 đến 0,9 lần MRHD dựa vào AUC và bằng 0,5 tới 5 lần MRHD dựa vào mg/m2). Trên chuột cống cái, tần số u xơ tuyến vú tăng lên với liều 10 mg/kg/ngày (bằng 0,1 lần MRHD dựa vào AUC và 3 lần MRHD dựa vào mg/m2), còn tần số ung thư biểu mô vỏ thượng thận và hỗn hợp u tuyến /ung thư biểu mô vỏ thượng thận tăng lên khi dùng liều uống 60 mg/kg/ngày (gấp 14 lần MRHD dựa vào AUC và 19 lẫn MRHD dựa vào mg/m2).

    Có gặp những thay đổi tăng sinh ở tuyến yên và tuyến vú của động vật gặm nhấm sau khi dùng dài ngày các thuốc tâm thần khác và coi như qua trung gian của prolactin. Prolactin huyết thanh không đo được trong các nghiên cứu về độc tính gây ung thư do aripiprazole. Tuy nhiên, có thấy tăng prolactin trong huyết thanh ở chuột nhắt cái trong nghiên cứu dùng thuốc trong 13 tuần với các liều gây u tuyến yên và tuyến vú. Prolactin – huyết thanh không tăng ở chuột cống cái trong nghiên cứu 4 và 13 tuần với các liều gây u tuyến vú. Chưa rõ sự liên quan với nguy cơ trên người về các u tuyến ở loài ngặm nhấm qua trung gian prolactin.

    Độc tính gây biến dị:

    Độc tính gây biến dị của aripiprazole được khảo sát qua thử nghiệm gây đột biến ngược in vitro ở vi khuẩn, thử nghiệm in vitro sự sửa chữa DNA vi khuẩn, thử nghiệm đột biến gen in vitro ở tế bào u lymphô bào của chuột nhắc, thử nghiệm in vitro về sai lạc nhiễm sắc thể ở tế bào phổi (CHL) của chuột hamster Trung Quốc, thử nghiệm nhân nhỏ trên chuột nhắt in vitro, thử nghiệm tổng hợp DNA không quy định thời hạn. Aripiprazole và chất chuyển hoá (2,3 – DCPP) làm tăng số sai lạc khi thử nghiệm in vitro các tế bào CHL khi không có mặt của sự hoạt hoá chuyển hoá. Có đáp ứng dương tính trong thử nghiệm in vitro nhân nhỏ ở chuột nhắt, tuy nhiên đáp ứng là do cơ chế không gặp ở người.

    Ảnh hưởng đến sự sinh sản:

    Chuột cống cái uống liều 2, 6 và 20 mg/kg/ngày (bằng 0,6, 2 và 6 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole 2 tuần trước khi giao hợp tới ngày thứ 7 của thai kỳ. Sự bất thường của chu kỳ động lực và tăng thể váng được thấy với mọi liều, nhưng không có ảnh hưởng tới sự sinh sản, sự tăng mất mát làm tổ của trứng được thấy với liều 6 và 20 mg/kg và giảm cân nặng của thai với liều 20mg/kg.

    Chuột cống được uống liều mỗi ngày 20-40-60 mg/kg (gấp 6-13-19 lần MRHD dựa vào mg/m2) aripiprazole từ 9 tuần trước giao hợp tới khi giao hợp. Rối loạn sinh tinh trùng gặp ở liều 60 mg/kg và teo tuyến tiền liệt với liều 40 và 60 mg/kg, nhưng không thấy ảnh hưởng tới sự sinh sản.

    Tác dụng :

    Tâm thần phân liệt:

    Aripiprazole được chỉ định điều trị bệnh tâm thần phân liệt.

    Đã xác định hiệu quả của Aripiprazole trong bệnh tâm thần phân liệt khi sử dụng ngắn ngày (4 và 6 tuần) trong các thử nghiệm có kiểm soát các bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị nội trú. Aripiprazole có hiệu quả duy trì sự ổn định ở bệnh nhân tâm thần phân liệt đã được ổn định về mặt triệu chứng bởi các trị liệu chống loạn tâm thần khác trong thời gian 3 tháng hoặc lâu hơn, đã ngừng các trị liệu khác này, rồi dùng Aripiprazole với liều 15mg/ngày và được theo dõi về sự tái phát trong thời gian tối đa 26 tuần. Một nghiên cứu có kiểm chứng với placebo đã chứng minh hiệu quả này. Khi chỉ định Aripiprazole trong thời gian kéo dài cần định kỳ đánh giá lại hiệu quả dài hạn của thuốc đối với từng cá thể.

    Hưng cảm lưỡng cực:

    Aripiprazole được chỉ định điều trị cơn hưng cảm cấp và các giai đoạn pha lẫn của rối loạn lưỡng cực.

    Đã xác định hiệu quả của Aripiprazole qua 2 thử nghiệm có kiểm soát với giả dược (3 tuần) trên những bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực theo phân loại DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th edition), bị cơn hưng cảm cấp hay các giai đoạn pha lẫn của rối loạn lưỡng cực có hay không có các biểu hiện tâm thần. Tuy nhiên, hiệu lực của Aripiprazole khi sử dụng dài hạn trên 3 tuần trong điều trị cơn hưng cảm cấp hay để dự phòng còn chưa được xác định bằng thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Do đó, khi bác sĩ chọn sử dụng Aripiprazole dài hạn cần định kỳ đánh giá lại các nguy cơ và lợi ích của thuốc trên từng bệnh nhân.

    Chỉ định :

    Điều trị tâm thần phân liệt ở người lớn và thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
    Điều trị các cơn hưng cảm từ trung bình đến nặng trong Rối loạn lưỡng cực I và để ngăn ngừa một giai đoạn hưng cảm mới ở những người trưởng thành trải qua giai đoạn hưng cảm chủ yếu và các giai đoạn hưng cảm đã đáp ứng với điều trị aripiprazole;

    Liều lượng – cách dùng:

    Tâm thần phân liệt:
    Liều thông thường:
     
    Liều khuyến cáo khởi đầu và liều đích là 10-15 mg/ngày, dùng một lần, không phụ thuộc bữa ăn. Thuốc đã được đánh giá một cách hệ thống và cho thấy thuốc có hiệu lực với các liều 10-30 mg/mgày, tuy nhiên, liều cao hơn 10-15 mg/ngày (là liều thấp nhất trong các thử nghiệm này) cũng không có hiệu lực hơn liều 10-15 mg/ngày. Không tăng liều trước 2 tuần vì đây là thời gian cần để đạt trạng thái ổn định. 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    Thường không cần thiết phải chỉnh liều theo tuổi, giới tính, chủng tộc hoặc tình trạng suy gan thận. 
    Phối hợp aripiprazole với thuốc ức chế CYP3A4: 
    Khi phối hợp ketoconazole với aripiprazole cần phải giảm liều aripiprazole xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP3A4. 
    Phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6: 
    Khi phối hợp aripiprazole với chất ức chế CYP2D6 ví dụ khi phối hợp với quinidine, fluoxetin hoặc paroxetine với aripiprazole, thì cũng phải giảm liều aripiprazole ít nhất xuống còn nửa liều thường dùng và tăng liều aripiprazole trở lại khi ngưng chất ức chế CYP2D6. 
    Phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4: 
    Khi phối hợp với chất cảm ứng CYP3A4 ví dụ như phối hợp với carbamazepine thì cần dùng liều aripiprazole gấp đôi (tới 20-30mg). Việc tăng liều nên dựa theo đánh giá lâm sàng. Khi ngưng carbamazepine thì nên giảm liều aripiprazole xuống còn 10-15mg/ngày. 

    Điều trị duy trì: 
    Vì chưa có số liệu có giá trị về việc sử dụng aripiprazole dài hạn, việc đánh giá một cách hệ thống bệnh nhân tâm thần phân liệt đã ổn định về triệu chứng với các thuốc chống loạn thần khác trong thời gian ≥3 tháng, đã ngừng các thuốc đó và sau đó dùng Aripiprazole 15mg/ngày và được theo dõi tái phát trong thời gian 26 tuần, cho thấy điều trị duy trì như thế là có lợi. Cần định kỳ đánh giá lại để xác định nhu cầu điều trị duy trì. 

    Chuyển đổi từ các thuốc chống loạn thần khác: 
    Chưa có dữ liệu được thu thập có hệ thống về việc chuyển bệnh nhân tâm thần phân liệt đã dùng thuốc tâm thần khác sang Aripiprazole hoặc về việc phối hợp Aripiprazole với các thuốc tâm thần khác. Việc ngừng đột ngột thuốc tâm thần dùng trước đó mặc dù có thể chấp nhận được ở một số bệnh nhân tâm thần phân liệt, tuy nhiên với các bệnh nhân khác thì ngưng từ từ có thể thích hợp hơn. Trong mọi trường hợp, thời kỳ giao nhau giữa các thuốc nên được giảm xuống tối thiểu. 
    Hưng cảm lưỡng cực: 
    Liều thông thường: 
    Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều khởi đầu là 30mg ngày 1 lần. Liều 30mg/ngày được thấy là có hiệu quả khi dùng dưới dạng viên. Khoảng 15% bệnh nhân được giảm liều xuống 15mg dựa vào mức độ dung nạp. Tính an toàn của các liều cao hơn 30mg/ngày hiện chưa được đánh giá qua thử nghiệm lâm sàng. 
    Liều duy trì: 
    Hiện chưa có số liệu từ các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát để đưa ra khuyến cáo về liều lượng khi sử dụng dài hạn cho bệnh nhân đã có cải thiện sau khi điều trị cơn cấp tính với aripriprazole. Mặc dù việc tiếp tục điều trị sau khi cơn cấp tính có đáp ứng là cần thiết, nhằm duy trì đáp ứng lúc đầu và ngăn ngừa tái phát cơn hưng cảm cấp tính, hiện chưa có dữ liệu có hệ thống ủng hộ việc sử dụng aripriprazole trong điều trị dài hạn như thế (dùng quá 3 tuần). 
    Liều lượng ở các đối tượng đặc biệt: 
    xem Liều ở các đối tượng đặc biệt trong Liều lượng và Cách dùng: Tâm thần phân liệt. 
    Quá liều 
    Chất kiểm tra: Aripiprazole (aripiprazole) không phải là chất để kiểm tra.
    Lạm dụng và lệ thuộc thuốc: 
    Chưa có nghiên cứu có hệ thống ở người về khả năng gây lạm dụng, lệ thuộc thuốc hoặc dung nạp thuốc của aripiprazole. Nghiên cứu trên khỉ về lệ thuộc thuốc, thấy có triệu chứng cai khi ngừng thuốc đột ngột. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng chưa cho thấy có khuynh hướng nào về thái độ lệ thuộc thuốc, các nhận xét trên chưa có hệ thống và không thể dùng để làm cơ sở kinh nghiệm, vì các thuốc tác động trên thần kinh trung ương có thể bị lạm dụng một khi đưa ra thị trường. 
    Vì vậy, bệnh nhân cần được đánh giá rất cẩn thận về tiền sử lạm dụng thuốc và những bệnh nhân như thế cần được theo dõi tỉ mỉ các dấu hiệu lạm dụng hoặc dùng sai Aripiprazole (ví dụ: tăng dung nạp, tăng liều, thái độ lệ thuộc thuốc).

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn cảm với thành phần của thuốc.

    Tác dụng phụ

    Độ an toàn của aripiprazole đã được đánh giá trên 7951 bệnh nhân dùng nhiều liều trong các thử nghiệm trước khi đưa ra thị trường ở người tâm thần phân liệt, cơn hưng cảm lưỡng cực và sa sút trí tuệ kiểu Alzheimer. Tổng cộng 2280 người dùng aripiprazole được điều trị ít nhất 180 ngày và 1558 người dùng thuốc này đã dùng thuốc ít nhất 1 năm.

    Các điều kiện và thời gian điều trị với aripiprazole bao gồm mù kép, nghiên cứu mở có và không có so sánh, nghiên cứu ở bệnh nhân nội trú và ngoại trú, với các liều cố định và linh động, nghiên cứu ngắn hạn và dài hạn. Đã thu thập các tác dụng phụ qua bệnh nhân báo cáo, cũng như từ kết quả khám nghiệm bệnh nhân, dấu hiệu sống, cân nặng, phân tích labô, điện tâm đồ.

    Trong các bảng tổng kết tác dụng phụ dưới đây, các nhà nghiên cứu lâm sàng đã sử dụng từ điển danh pháp Costart cải tiến, nhằm phân loại các tác dụng phụ vào những nhóm nhỏ, với mục đích cung cấp những ước lượng có ý nghĩa về tỉ lệ các cá nhân có tác dụng phụ của thuốc.

    Tần suất các tác dụng phụ biểu hiện tỷ lệ các cá thể có ít nhất một hiện tượng có hại gặp khi điều trị đã được liệt kê trong danh mục. Một hiện tượng được xem là do điều trị khi nó xảy ra lần đầu hoặc xấu đi trong khi được điều trị.

    Bác sĩ cần lưu ý là những số liệu trong các bảng sau không thể dùng để dự đoán tần suất các tác dụng phụ trong thực hành hàng ngày do có sự khác biệt giữa bệnh nhân đang được điều trị và những bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn tùy thuộc vào cách điều trị, cách dùng thuốc và người nghiên cứu. Tuy nhiên, các số liệu dưới đây cũng có thể cung cấp một cơ sở để đánh giá về ảnh hưởng tương đối của thuốc và các yếu tố khác không phải thuốc vào tần suất của các tác dụng phụ ở quần thể nghiên cứu.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào 5 cuộc thử nghiệm có kiểm soát placebo (4 thử nghiệm 4 tuần và 1 thử nghiệm 6 tuần) mà aripiprazole được dùng với liều 2-30 mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (7%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương tự giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Tác dụng phụ ghi được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ sau đây dựa vào một thử nghiệm 3 tuần có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực trong đó aripriprazole được sử dụng ở liều 15 hay 30mg/ngày.

    Tác dụng phụ liên quan đến ngừng điều trị trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo:

    Nói chung, không có khác biệt về tần suất của ngừng điều trị do các tác dụng phụ giữa người dùng aripiprazole (11%) so với bệnh nhân dùng placebo (9%). Loại tác dụng phụ khiến phải ngừng thuốc là tương đương giữa các bệnh nhân dùng aripiprazole với nhóm placebo.

    Những tác dụng phụ thường quan sát được trong thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    Những tác dụng phụ thường quan sát được có liên quan đến việc dùng aripriprazole ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực (tần suất ≥5% và tần suất của nhóm aripriprazole ìt nhất là gấp đôi của nhóm placebo) được liệt kê ở Bảng 1. Không có tác dụng phụ nào trong thử nghiệm ngắn hạn của bệnh tâm thần phân liệt đáp ứng các tiêu chuẩn này.

    Bảng 1. Các tác dụng phụ thường gặp trong thử nghiệm ngắn hạn có kiểm soát placebo ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực:

    % bệnh nhân báo cáo có tác dụng phụ

    Tác dụng phụ Aripriprazole Placebo

    (n=597) (n=436)

    Tổn thương ngẫu nhiên 6 3

    Táo bón 13 6

    Nằm ngồi không yên 15 4

    Tác dụng phụ do liều lượng:

    Tâm thần phân liệt:

    Sự liên quan giữa đáp ứng với liều về tần suất các tác dụng phụ do dùng thuốc đã được đánh giá trong 4 thử nghiệm trên bệnh nhân tâm thần phân liệt so sánh các liều cố định (2-10-15-20 và 30mg/ ngày) của aripiprazole so với placebo. Phân tích cho thấy chỉ có một tác dụng phụ là có thể liên quan tới đáp ứng liều lượng và chỉ nổi bật với liều 30mg, đó là buồn ngủ (placebo: 7,7%; 15mg: 8,7%; 20mg: 7,5%; 30mg: 15,3%).

    Triệu chứng ngoại tháp (EPS):

    Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, tần suất các EPS ở người dùng aripiprazole là 6% so với ở placebo là 6%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất các tác dụng phụ liên quan đến EPS, ngoại trừ chứng nằm ngồi không yên, ở người dùng aripiprazole là 17% so với ở placebo là 12%. Trong các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tần suất bị chứng nằm ngồi không yên ở người dùng aripriprazole là 15% so với ở placebo là 4%. Các dữ liệu khách quan thu thập được trong các thử nghiệm này dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barmes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assessments of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) cũng không cho thấy sự khác biệt giữa aripiprazole với placebo, ngoại trừ thang điểm Barmes Akathisia Scale (aripiprazole: 0,08; placebo: -0,05).

    Tương tự, trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, các dữ liệu khách quan thu thập được dựa trên các thang điểm Simpson Angus Rating Scale (cho EPS), Barnes Akathisia Scale (cho chứng nằm ngồi không yên) và Assesment of Involuntary Movement Scale (cho chứng loạn vận động) không cho thấy có khác biệt giữa aripiprazole và placebo.

    Bất thường về các thử nghiệm trong labô:

    So sánh giữa 2 nhóm trong 3-6 tuần trong các thử nghiệm có kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa nhóm dùng thuốc và nhóm placebo về tỷ lệ các bệnh nhân có những thay đổi đáng kể về phương diện lâm sàng trong các thông số thường quy về hoá sinh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu. Đồng thời, không có khác biệt giữa aripiprazole với placebo về tỷ lệ ngừng thuốc do thay đổi về hoá sinh huyết thanh, huyết học hoặc phân tích nước tiểu.

    Trong thử nghiệm dài ngày (26 tuần), có kiểm soát placebo, không có khác biệt quan trọng về phương diện y khoa giữa 2 nhóm dùng aripiprazole và placebo về sự thay đổi trung bình so với mức cơ bản của prolactin, glucose-máu khi đói, triglyceride, HDL-C, LDL-C và cholesterol toàn phần trong máu.

    Tăng thể trọng:

    Trong thử nghiệm ngắn ngày 4-6 tuần trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, chỉ có khác biệt nhỏ về tăng thể trọng trung bình giữa nhóm aripiprazole và nhóm placebo (+0,7kg so với -0,05kg) và cũng có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng (ở nhóm dùng thuốc là 8% so với nhóm placebo 3%). Trong thử nghiệm ngắn ngày 3 tuần trên bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, tăng cân trung bình của nhóm dùng aripriprazole là 0,0kg so với -0,2kg ở nhóm dùng placebo. Tỷ lệ bệnh nhân có tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng là 3% ở nhóm dùng aripriprazole so với ở nhóm dùng placebo là 2%.

    Bảng 3 cung cấp các kết quả về thay đổi thể trọng khi dùng thuốc dài ngày (26 tuần) có kiểm soát placebo, cả sự thay đổi trung bình so với mức độ cơ bản và tỷ lệ các bệnh nhân tăng cân theo tiêu chuẩn ≥7% thể trọng so với mức cơ bản, dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI) ở mức cơ bản:

    Thay đổi về điện tâm đồ:

    So sánh giữa các nhóm trong các thử nghiệm kiểm soát placebo cho thấy không có khác biệt rõ rệt giữa các nhóm aripiprazole và placebo về tỷ lệ bệnh nhân có thay đổi quan trọng về các thông số điện tâm đồ; trong thực tế, giữa khoảng liều 10-30mg/ngày, thấy aripiprazole có khuynh hướng làm ngắn đoạn QT. Aripiprazole làm tăng nhịp tim (trung bình 4 nhịp/phút) so với 1 nhịp/phút ở nhóm placebo.

    Những ghi nhận thêm khi thử nghiệm lâm sàng:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm dài ngày, mù kép, có kiểm soát placebo:

    Các tác dụng phụ trong thử nghiệm 26 tuần, mù kép, so sánh Aripiprazole với placebo thường phù hợp với các hiện tượng thường gặp ở các thử nghiệm ngắn ngày, có kiểm soát placebo, trừ tần suất cao hơn về run [9% (13/153) với Aripiprazole so với 1% (2/153) ở placebo]. Trong nghiên cứu này, phần lớn các trường hợp run có cường độ thấp (9/13 nhẹ và 4/13 trung bình), xảy ra sớm khi điều trị (9/13 trong ≤49 ngày) và cũng không tồn tại lâu (9/13 ≤10 ngày). Run ít khi phải ngừng thuốc (Các tác dụng phụ khác trong khi đánh giá aripiprazole trước khi đưa ra thị trường:

    Cần lưu ý là mặc dầu các hiện tượng được báo cáo trong khi điều trị với aripiprazole cũng không nhất thiết là do thuốc này gây nên. Các hiện tượng được nêu theo hệ cơ quan và sắp xếp theo tần số giảm dần dựa theo các định nghĩa sau: các hiện tượng có hại hay gặp là ở ít nhất 1% bệnh nhân; các hiện tượng ít gặp là ở từ 1% đến 0,1% bệnh nhân; các hiện tượng hiếm gặp xảy ra cho ít hơn 1/1000 bệnh nhân.

    Toàn cơ thể:

    Hay gặp: hội chứng giống cúm, đau ngực, cứng cổ, cứng đầu chi, đau cổ, đau vùng chậu.

    Ít gặp: phù mặt, ý tưởng tự vẫn, khó ở, nhức nửa đầu, ớn lạnh, nhạy cảm ánh sáng, cảm giác căng cứng (ở bụng, ngực, lưng, đầu chi, đầu, hàm, cổ, lưỡi) đau hàm, đầy bụng, căng bụng, căng ngực, đau họng.

    Hiếm: moniliase, nặng đầu, sưng họng, hội chứng Mendelson, đột qụy.

    Hệ tim mạch:

    Hay gặp: nhịp tim nhanh (bao gồm nhịp nhanh thất và trên thất), hạ huyết áp, nhịp tim chậm.

    Ít gặp: đánh trống ngực, chảy máu, suy tim, nhồi máu cơ tim, ngừng tim, rung nhĩ, blốc nhĩ thất, kéo dài đoạn QT, ngoại tâm thu, thiếu máu cục bộ cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu, đau thắt ngực, xanh xao, ngưng tim ngưng thở, viêm tĩnh mạch.

    Hiếm: blốc nhánh, cuồng động nhĩ, tim to, viêm tĩnh mạch huyết khối, suy tim – hô hấp.

    Hệ tiêu hoá:

    Hay gặp: buồn nôn, nôn.

    Ít gặp: tăng thèm ăn, nuốt khó, viêm dạ dày – ruột, đầy bụng, sâu răng, viêm dạ dày, viêm lợi, xuất huyết tiêu hóa, trĩ, trào ngược dạ dày – thực quản, áp xe quanh răng, đại tiện không kiềm chế được, chảy máu trực tràng, viêm miệng, viêm ruột kết, phù lưỡi, viêm túi mật, loét miệng, moniliase miệng, ợ hơi, chèn ép phân.

    Hiếm: viêm thực quản, ói máu, tắc ruột, chảy máu lợi, viêm gan, loét đường tiêu hóa, viêm lưỡi, tiêu ra máu, loét tá tràng, viêm môi, gan to, viêm tụy.

    Hệ nội tiết:

    Ít gặp: suy giáp.

    Hiếm: bướu giáp, cường giáp.

    Hệ máu / Bạch huyết:

    Hay gặp: bầm máu, thiếu máu.

    Ít gặp: thiếu máu nhược sắc, tăng bạch cầu, giảm bạch cầu (kể cả giảm bạch cầu trung tính), bệnh hạch bạch huyết, tăng bạch cầu ưa eosin, thiếu máu đại hồng cầu.

    Hiếm: giảm tiểu cầu, tăng tạo tiểu cầu, đốm xuất huyết.

    Rối loạn chuyển hoá / dinh dưỡng:

    Hay gặp: giảm cân, tăng creatin – phosphokinase, mất nước.

    Ít gặp: phù, tăng đường huyết, tăng cholesterol máu, giảm kali máu, đái tháo đường, hạ đường huyết, tăng lipid máu, tăng SGPT, khát, tăng BUN, hạ natri máu, tăng SGOT, tăng creatinin, tím xanh, tăng phosphatase kiềm, bilirubin máu, thiếu máu thiếu sắt, tăng kali máu, tăng acid uric máu, béo phì.

    Hiếm: tăng lactic-delydrogenase, tăng natri máu, gút, phản ứng hạ đường huyết.

    Hệ cơ xương:

    Hay gặp: Chuột rút.

    Ít gặp: đau khớp, nhược cơ, bệnh khớp, đau xương, viêm khớp, yếu cơ, co thắt cơ, viêm túi thanh mạc, bệnh cơ.

    Hiếm: viêm khớp dạng thấp, tiêu cơ vân, viêm gân, viêm bao hoạt dịch.

    Hệ thần kinh:

    Hay gặp: trầm cảm, kích động, phản ứng tâm thần phân liệt, ảo giác, chống đối, lẫn lộn, phản ứng hoang tưởng, ý tưởng tự vẫn, dáng đi bất thường, phản ứng hưng cảm, giấc mơ bất thường.

    Ít gặp: cảm xúc thất thường, co giật, co cứng các chi, mất tập trung, rối loạn trương lực, giãn mạch, dị cảm, bất lực, run chân tay, giảm cảm giác, chóng mặt, trạng thái ngẩn ngơ, vận động chậm, lãnh đạm, tấn công hoảng loạn, giảm dục năng, ngủ nhiều, rối loạn vận động, phản ứng hưng cảm-trầm cảm, thất điều, ảo giác về thị giác, tai biến mạch não, vận động chậm chạp, mất nhân cách, mất trí nhớ, mê sảng, loạn vận ngôn, rối loạn vận động muộn, hay quên, tăng dục năng, máy cơ, bồn chồn không yên, bệnh thần kinh, cảm giác khó chịu, tăng động, thiếu máu cục bộ não, tăng phản xạ, mất vận động, giảm nhận thức, tăng cảm giác, suy nghĩ chậm chạp.

    Hiếm: cảm giác cùn mòn, sảng khoái, mất điều hoà động tác, cơn tăng vận nhãn, bị ám ảnh, giảm trương lực, hội chứng miệng-hầu, giảm phản xạ, mất thực tế, chảy máu trong sọ.

    Hệ hô hấp:

    Hay gặp: viêm xoang, khó thở, viêm phổi, hen.

    Ít gặp: chảy máu cam, nấc, viêm thanh quản, viêm phổi do hít.

    Hiếm: phù phổi, tăng tiết đờm, tắc mạch phổi, thiếu oxy, suy hô hấp, ngừng thở, khô mũi, ho ra máu.

    Da và phần phụ da:

    Hay gặp: loét da, chảy mồ hôi, da khô.

    Ít gặp: ngứa, phát ban phù nhú, trứng cá, chàm, mất màu da, rụng tóc, tăng tiết bã nhờn, vảy nến.

    Hiếm: ban sần, viêm da tróc vảy, mày đay.

    Giác quan:

    Hay gặp: viêm kết mạc.

    Ít gặp: đau tai, khô mắt, đau mắt, ù tai, cườm mắt, viêm tai giữa, giảm vị giác, viêm mi mắt, chảy máu mắt, điếc.

    Hiếm: nhìn đôi, hay nháy mắt, sa mí mắt, viêm tai ngoài, giảm thị lực, sợ ánh sáng.

    Hệ tiết niệu:

    Hay gặp: đái không kìm được.

    Ít gặp: hay tiểu tiện, khí hư, bí tiểu, viêm bàng quang, đái ra máu, tiểu khó, mất kinh, chảy máu âm đạo, xuất tinh bất thường, suy thận, moniliase âm đạo, bệnh thận, vú to ở đàn ông, sỏi thận, albumin niệu, đau vú, tiểu đau.

    Hiếm: đái đêm, tiểu nhiều, rong kinh, không đạt cực khoái khi hoạt động tình dục, đường niệu, viêm cổ tử cung, chãy máu tử cung, chảy sữa ở nữ, sỏi niệu, cương đau dương vật.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Aritero 30 và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Aritero 30 bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Atarax

    Thuốc Atarax

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Atarax công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Atarax điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Atarax ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Atarax

    Atarax
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế: Viên nén
    Đóng gói: Hộp 1 vỉ x 30 viên

    Thành phần:

    Hydroxyzine
    Hàm lượng:
    25mg
    SĐK:VN-9222-04
    Nhà sản xuất: U.C.B.S.A Pharma Sector – BỈ
    Nhà đăng ký: U.C.B.S.A Pharma Sector
    Nhà phân phối: azthuoc

    Chỉ định thuốc Atarax

    – Giảm triệu chứng lo âu & căng thẳng.

    – Làm dịu thần kinh trong khi tiền mê & sau khi gây mê. 

    – Ngứa do dị ứng: Viêm da dị ứng, viêm da do tiếp xúc.

    Liều lượng – Cách dùng thuốc Atarax

    Người lớn: 
    2-4 viên nén (25mg) mỗi ngày;
    Trẻ em từ 30 tháng đến 15 tuổi: 1mg/kg/ngày.

    Chống chỉ định thuốc Atarax

    Thuốc này không đựơc dùng trong các trường hợp sau: khó tiểu tiện, tăng nhãn áp, dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc.

    Tương tác thuốc:

    Rượu, thuốc ức chế TKTW.

    Tác dụng phụ thuốc Atarax

    Làm dịu thần kinh, khô miệng, run & co giật.

    Táo bón, khó tiểu tiện, khô miệng, buồn ngủ, khó ở.

    Chú ý đề phòng khi dùng thuốc Atarax

    – Không dùng thức ăn, dược phẩm có chứa cồn trong khi đang điều trị. – Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng, nếu cần thêm thị trường xin hỏi ý kiến dược sỹ hoặc bác sỹ của bạn. thuốc này chỉ dùng theo sự kê đơn của thầy thuốc, luôn giữa thuốc ngoài tầm tay của trẻ em.Trong trường hợp nghi ngờ hãy hỏi ý kiến dược sỹ hay bác sĩ để tránh tương tác thuốc có thể xảy ra, hãy thông báo cho bác sỹ hay dược sỹ của bạn về bất cứ trị liệu nào đang tiến hành.

    – Thuốc có thể gây buồn ngủ, nên thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc. Không nên dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú chưa có đủ dữ liệu để chứng minh tính an toàn của thuốc đối với phụ nữ có thai và thuốc có thể qua được hàng rào rau thai.

    Thông tin thành phần Hydroxyzine

    Dược lực:

    Hydroxyzine là một dẫn xuất của piperazine không thuộc nhóm hóa học với các phénothiazine.

    Các thí nghiệm và khảo sát lâm sàng khác nhau đã cho thấy rằng: hydroxyzine không có tác dụng gây ức chế vỏ não, mà chỉ ức chế một vài vùng dưới vỏ não. Ðiều này làm cho thuốc có tác động làm dịu cường độ xúc cảm và lo âu, và như thế giúp cho việc kiểm soát cảm xúc và một vài phản ứng thần kinh thực vật.

    Dược động học :

    – Sau khi được hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa, hydroxyzine được chuyển hóa hoàn toàn.

    – Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được sau 2 giờ đến 2 giờ 30 phút.

    – Thuốc có tác động sau khi uống từ 15 đến 30 phút.

    – Thời gian tác động từ 6 đến 8 giờ.

    Tác dụng :

    Hydroxyzine là thuốc kháng histamine có tác dụng kháng chloline và an thần để điều trị dị ứng histamine do cơ thể giải phóng ra trong một số thể dị ứng. Khi giải phóng ra nó gắn với các receptor histamine cạnh tranh với histamine trên các receptor, tuy nhiên, khi chúng gắn với các receptor chúng không gây kích thích các tế bào. Hơn nữa chúng ngǎn cản histamine gắn vào và kích thích tế bào. Sau khi hấp thụ Hydroxyzine chuyển hoá thành cetirizine- một chất chuyển hóa có dụng. Cả hydroxyzine và cetirizine đều có tác dụng kháng histamine. Hydroyine có tác dụng an thần nhẹ còn cetirizine thì không có tác dụng an thần.

    Chỉ định :

    – Y khoa tổng quát: các biểu hiện nhẹ của chứng lo âu.

    – Khoa thần kinh-tâm thần: lo âu nhẹ.

    – Khoa gây mê: tiền mê trong gây mê tổng quát (dạng uống), đặc biệt trong một vài thăm dò chức năng hoặc thăm dò quang tuyến gây đau (dạng tiêm).

    – Ðiều trị triệu chứng các biểu hiện dị ứng khác nhau: viêm mũi vận mạch (theo mùa hoặc không theo mùa), viêm kết mạc, nổi mề đay

    Liều lượng – cách dùng:

    Thay đổi tùy theo chỉ định.

    Y khoa tổng quát: 50-100 mg/24 giờ.

    Khoa thần kinh-tâm thần: 100-300 mg/24 giờ.

    Khoa gây mê: 100-200 mg/24 giờ.

    Khoa da liễu: 50-100 mg/24 giờ.

    Nhi khoa (trẻ từ 30 tháng đến 15 tuổi): 1 mg/kg/ngày.

    Dạng 100mg không thích hợp cho trẻ em.

    Các liều khuyến cáo trên đây có thể được tăng hay giảm tùy theo yêu cầu.

    Chống chỉ định :

    – Quá mẫn cảm với hydroxyzine.

    – Liên quan đến tác động kháng cholinergique : nguy cơ bị glaucome khép góc và nguy cơ bị bí tiểu có liên quan đến các rối loạn niệu đạo-tuyến tiền liệt.

    Tác dụng phụ

    Thường chỉ thoáng qua: kích động, táo bón.

    Gây buồn ngủ.

    Tác dụng kháng cholinergique có thể gây khô miệng, bí tiểu, rối loạn điều tiết, lú lẫn ở người già.

    Các tác dụng gây ức chế hô hấp không được ghi nhận.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Atarax và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Atarax bình luận cuối bài viết.

    Nguồn tham khảo uy tín

    Thuốc Atarax cập nhật ngày 28/12/2020: https://www.drugs.com/atarax.html

    Thuốc Atarax cập nhật ngày 28/12/2020: https://en.wikipedia.org/wiki/Hydroxyzine

  • Thuốc Apharmcetam

    Thuốc Apharmcetam

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Apharmcetam công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Apharmcetam điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Apharmcetam ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Apharmcetam

    Apharmcetam
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nang cứng
    Đóng gói:Hộp 10 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Piracetam 400 mg
    SĐK:VD-28723-18
    Nhà sản xuất: Công ty TNHH MTV 120 Armephaco – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV 120 Armephaco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Bệnh do tổn thương não, các triệu chứng của hậu phẫu não & chấn thương não: loạn tâm thần, đột quỵ, liệt nửa người, thiếu máu cục bộ. 

    – Bệnh do rối loạn ngoại biên & trung khu não bộ: chóng mặt, nhức đầu, mê sảng nặng. 
    – Bệnh do các rối loạn não: hôn mê, các triệu chứng của tình trạng lão suy, rối loạn ý thức.

    – Các tai biến về mạch não, nhiễm độc carbon monoxide & di chứng. 
    – Suy giảm chức năng nhận thức & suy giảm thần kinh cảm giác mãn tính ở người già. 
    – Chứng khó học ở trẻ, nghiện rượu mãn tính, rung giật cơ.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Liều thường dùng 30 – 160 mg/kg/ngày, chia đều 2 lần hoặc 3 – 4 lần /ngày. 
    – Điều trị dài ngày các hội chứng tâm thần thực thể ở người cao tuổi: 1,2 – 2,4 g/ngày. Liều có thể cao tới 4,8 g/ngày/những tuần đầu.
    – Điều trị nghiện rượu: 12 g/ngày/thời gian cai rượu đầu tiên. Điều trị duy trì: Uống 2,4 g/ngày.
    – Suy giảm nhận thức sau chấn thương não: Liều ban đầu: 9 – 12 g/ngày, liều duy trì: 2,4 g/ngày, uống ít nhất trong 3 tuần.
    – Thiếu máu hồng cầu liềm: 160 mg/kg/ngày, chia đều làm 4 lần.
    – Điều trị giật rung cơ: 7,2 g/ngày, chia làm 2 – 3 lần. Tuỳ theo đáp ứng cứ 3 – 4 ngày/lần, tăng thêm 4,8 g/ngày cho tới liều tối đa là 20 g/ngày.

    Thông thường:

    Người lớn: liều khởi đầu 800 mg, mỗi ngày ba lần. 

    Trường hợp cải thiện 400 mg, mỗi ngày ba lần.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần thuốc, suy thận nặng và phụ nữ có thai, cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Thuốc kích thích thần kinh trung ương, thuốc hướng thần kinh, hocmon giáp trạng.

    Tác dụng phụ:

    Có thể xảy ra kích thích nhẹ, nhưng có thể kiểm soát được bằng cách giảm liều.

    Chú ý đề phòng:

    Người lớn tuổi. Ðộng kinh.

    Thông tin thành phần Piracetam

    Dược lực:

    Piracetam là loại thuốc hưng trí(cải thiện chuyển hoá của tế bào thần kinh).

    Dược động học :

    – Hấp thu: dùng theo đường uống được hấp thu nhanh chóng và hầu như hoàn toàn ở ống tiêu hoá. Sinh khả dụng gần 100%. Hấp thu thuốc không thay đổi khi điều trị dài ngày.

    – Phân bố: thể tích phân bố khoảng 0,6l/kg. Piracetam ngấm vào tất cả các mô và có thể qua hàng rào máu não, nhau thai và cả các màng dùng trong thẩm tích thận. Piracetam không gắn vào các protein huyết tương.

    – Thải trừ: được đào thải qua thận dưới dạng nguyên vẹn, hệ số thanh thải piracetam của thận ở người bình thường là 86ml/phút. 30 giờ sau khi uống , hơn 95% thuốc được thải theo nước tiểu. Ở người suy thận thì thời gian bán thải tăng lên.

    Tác dụng :

    Piracetam (dẫn xuất vòng của acid gama aminobutyric, GABA), được coi là một chất có tác dụng hưng phấn(cải thiện chuyển hoá của tế bào thần kinh) mặc dù người ta còn chưa biết nhiều về tác dụng đặc hiệu cũng như cơ chế tác dụng của nó.

    Piracetam tác động lên một số chất dẫn truyền thần kinh như acetylcholin, noradrenalin, dopamin…Thuốc có thể làm thay đổi một sự dẫn truyền thần kinh và góp phần cải thiện môi trường chuyển hoá để các tế bào thần kinh hoạt động tốt.

    Trên thực nghiệm, piracetam có tác dụng bảo vệ chống lại những rối loạn chuyển hoá do thiếu máu cục bộ nhờ làm tăng đề kháng của não đối với tình trạng thiếu oxy.

    Piracetam làm tăng sự huy động và sử dụng glucose mà không lệ thuộc vào sự cung cấp oxy,tạo thuận lợi cho con đường pentose và duy trì tổng hợp năng lượng ở não.

    Thuốc còn có tác dụng làm tăng giải phóng dopamin, có tác dụng tốt lên sự hình thành trí nhớ.

    Piracetam không có tác dụng gây ngủ, an thần, hồi sức ,giảm đau.

    Piracetam làm giảm khả năng kết tụ tiểu cầu và trong trường hợp hồng cầu bị cứng bất thường thì thuốc có thể làm cho hồng cầu phục hồi khả năng biến dạng và khả năng đi qua các mao mạch. Thuốc có tác dụng chống giật rung cơ.

    Chỉ định :

    Điều trị các triệu chứng chóng mặt. 

    Các tổn thương sau chấn thương sọ não và phẫu thuật não: rối loạn tâm thần, tụ máu, liệt nửa người và thiếu máu cục bộ. 

    Các rối loạn thần kinh trung ương: chóng mặt, nhức đầu, lo âu, sảng rượu, rối loạn ý thức.

    Suy giảm trí nhớ, thiếu tập trung, sa sút trí tuệ ở người già. 
    Thiếu máu hồng cầu hình liềm. 
    Các trường hợp thiếu máu cục bộ cấp. 
    Điều trị nghiện rượu. 
    Điều trị thiếu máu hồng cầu liềm. 
    Dùng bổ trợ trong điều trị giật rung cơ có nguồn gốc vỏ não.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều thường dùng là 30 – 160 mg/kg/ngày, tùy theo chỉ định. 
    Thuốc được dùng tiêm hoặc uống, chia đều ngày 2 lần hoặc 3 – 4 lần. Nên dùng thuốc uống nếu người bệnh uống được. 
    Cũng có thể dùng thuốc tiêm để uống nếu như phải ngừng dùng dạng tiêm. Trường hợp nặng, có thể tăng liều lên tới 12 g/ngày và dùng theo đường truyền tĩnh mạch.
    Ðiều trị dài ngày các hội chứng tâm thần thực thể ở người cao tuổi: 
    1,2 – 2,4 g một ngày, tùy theo từng trường hợp. Liều có thể cao tới 4,8 g/ngày trong những tuần đầu.
    Ðiều trị nghiện rượu:

    12 g một ngày trong thời gian cai rượu đầu tiên. Ðiều trị duy trì: Uống 2,4 g/ngày.

    Suy giảm nhận thức sau chấn thương não (có kèm chóng mặt hoặc không):
     Liều ban đầu là 9 – 12 g/ngày; liều duy trì là 2,4 g thuốc, uống ít nhất trong ba tuần.
    Thiếu máu hồng cầu liềm:
    160 mg/kg/ngày, chia đều làm 4 lần.
    Ðiều trị giật rung cơ:
    piracetam được dùng với liều 7,2 g/ngày, chia làm 2 – 3 lần. Tùy theo đáp ứng, cứ 3 – 4 ngày một lần, tăng thêm 4,8 g mỗi ngày cho tới liều tối đa là 20 g/ngày. Sau khi đã đạt liều tối ưu của piracetam, nên tìm cách giảm liều của các thuốc dùng kèm.

    Chống chỉ định :

    Suy thận nặng.

    Phụ nữ có thai và cho con bú.

    Người mắc bệnh Huntington.

    Người bệnh suy gan.

    Tác dụng phụ

    Bồn chồn, bứt rứt, kích thích, lo âu & rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, choáng váng, rối loạn tiêu hóa.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Apharmcetam và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Apharmcetam bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Zydtez

    Thuốc Zydtez

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Zydtez công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Zydtez điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Zydtez ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Zydtez

    Zydtez
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 6 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Zopiclone 7,5 mg
    SĐK:VD-31770-19
    Nhà sản xuất: Công ty CP dược phẩm Me Di Sun – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty CP dược phẩm Me Di Sun
    Nhà phân phối:

    Thông tin thành phần Zopiclone

    Dược lực:

    Cơ chế hoạt động chính xác của zopiclone chưa được biết chính xác, nhưng hiệu quả của nó được cho là kết quả từ sự tương tác với Các phức hợp thụ thể GABA tại các miền liên kết nằm gần hoặc kết hợp với các thụ thể benzodiazepine.

    Dược động học :

    Ở người khỏe mạnh zopiclone được hấp thu nhanh, với thời gian nồng độ đỉnh (tmax) xấp xỉ 1 giờ và chu kỳ bán hủy giai đoạn cuối (t1 / 2) khoảng 6 giờ.

    Hấp thu và phân bố: Zopiclone được hấp thu nhanh sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong khoảng 1 giờ sau khi uống. Zopiclone liên kết yếu với protein huyết tương (52-59%).

    Chuyển hóa: Sau khi uống, eszopiclone được chuyển hóa rộng rãi bởi quá trình oxy hóa và demethyl hóa. Các chất chuyển hóa là (S) -zopiclone-N-oxit và (S) -N-desmethyl zopiclone; hợp chất thứ hai liên kết với các thụ thể GABA với hiệu lực thấp hơn đáng kể so với Zopiclone

    Thải trừ: Sau khi uống, Zopiclone được loại bỏ với một t1 / 2 trung bình khoảng 6 giờ. 75% liều uống đường uống zopiclone được bài tiết trong nước tiểu, chủ yếu là chất chuyển hóa.

    Chỉ định :

    Điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ, bao gồm khó ngủ, tỉnh giấc về đêm và thức sớm, chứng mất ngủ thoáng qua, tạm thời hoặc mạn tính, và mất ngủ thứ phát do rối loạn tâm thần, trong những trường hợp mà mất ngủ làm cho bệnh nhân suy nhược hoặc kiệt sức trầm trọng.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều dùng:

    Người lớn: Liều thường dùng: 7,5 mg.

    Người cao tuổi: Nên bắt đầu điều trị với liều 3,75 mg.

    Bệnh nhân bị suy thận hay suy gan nhẹ đến trung bình: Nên bắt đầu điều trị với zopiclon ở liều 3,75 mg.

    Cách dùng:

    – Nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong mỗi đợt điều trị.

    – Nên uống thuốc trước khi đi ngủ, ở tư thế đứng.

    – Thời gian trị liệu:

    Mất ngủ tạm thời: 2 – 5 ngày.

    Mất ngủ ngắn hạn: 2 – 3 tuần.

    Một đợt trị liệu không nên kéo dài hơn 4 tuần tính cả thời gian giảm liều.

    Chống chỉ định :

    – Quá mẫn với zopiclon hay với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

    – Chứng nhược cơ nặng, suy hô hấp, hội chứng ngưng thở trầm trọng khi ngủ, suy gan trầm trọng.

    – Trẻ em.

    Tác dụng phụ

    Thường gặp nhất:

    Miệng có vị hơi đắng hay vị kim loại.

    Ít gặp:

    Rối loạn tiêu hóa nhẹ, bao gồm buồn nôn và nôn, chóng mặt, đau đầu, ngủ gật và khô miệng.

    Hiếm gặp:

    Rối loạn tâm thần và hành vi, như dễ cáu kỉnh, hung hăng, lú lẫn, chán nản, chứng quên về sau, mộng du, ảo giác và gặp ác mộng, thường gặp hơn ở người cao tuổi. Dị ứng hay những triệu chứng tương tự (như mề đay hay phát ban), đầu lâng lâng và mất khả năng phối hợp, phù nề và/ hoặc phản ứng phản vệ, tăng transaminase và/hoặc alkalin phosphatase trong huyết thanh nhẹ đến trung bình.

    Triệu chứng cai thuốc thay đổi gồm chứng mất ngủ trở lại, lo lắng, run, đổ mồ hôi, kích động, lú lẫn, đau đầu, đánh trống ngực, tim đập nhanh, mê sảng, ác mộng, ảo giác, cơn hoảng loạn, đau cơ/ chuột rút, rối loạn tiêu hóa và dễ cáu kỉnh. Cơn động kinh có thể xảy ra nhưng rất hiếm.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Zydtez và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Zydtez bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Rilixetin

    Thuốc Rilixetin

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Rilixetin công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Rilixetin điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Rilixetin ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Rilixetin

    Rilixetin
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 4 viên

    Thành phần:

    Dapoxetin (dưới dạng Dapoxetin hydrochlorid) 30mg
    SĐK:VD-28738-18
    Nhà sản xuất: Công ty TNHH sinh dược phẩm Hera – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH sinh dược phẩm Hera
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Rilixetin được chỉ định để điều trị xuất tinh sớm ở nam giới trưởng thành, từ 18 đến 64 tuổi.
    Rilixetin chỉ nên chỉ định cho những bệnh nhân đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
    – Thời gian chờ xuất tinh trong âm đạo ít hơn hai phút.
    – Xuất tinh dai dẳng hoặc tái phát với sự kích thích tình dục tối thiểu trước, trong hoặc ngay sau khi thâm nhập và trước khi bệnh nhân có chủ định.
    – Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm.
    – Kiểm soát kém việc xuất tinh.
    – Tiền sử xuất tinh sớm trong hầu hết các lần giao hợp trong 6 tháng trước.
    Rilixetin nên được dùng theo yêu cầu điều trị trước khi sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên được kê đơn để trì hoãn xuất tinh ở nam giới mà không được chẩn đoán với xuất tinh sớm.
    DƯỢC LỰC HỌC
    Dapoxetine là chất ức chế có chọn lọc serotonin mạnh (SSRI) với IC50 là 1,12 nM, trong khi đó những chất chuyển hóa chính ở người là desmethyl dapoxetine (IC50 <1,0 nM) và didesmethyl dapoxetine (IC50 = 2,0 nM) là tương đương hoặc ít hiệu lực hơn (dapoxetine-N-oxid (IC50 = 282 nM)).
    Xuất tinh ở người chủ yếu qua trung gian của hệ thống thần kinh giao cảm. Con đường xuất tinh bắt nguồn từ một trung tâm phản xạ ở tủy sống, qua trung gian của thân não, bị ảnh hưởng đầu tiên bởi một số hạt nhân trong não (nhân trung gian và các hạt nhân cạnh não thất).
    Cơ chế tác động của dapoxetine trong xuất tinh sớm được cho là có liên quan đến sự ức chế tái hấp thu tế bào thần kinh serotonin và tiềm lực tiếp theo của hoạt động dẫn truyền thần kinh tại thụ thể trước và sau xináp.
    Ở chuột, dapoxetine ức chế sự phản xạ xuất tinh bằng cách tác động một mức độ ở phía trên cột sống trong nhân cạnh não thất (LPGi). Sợi hạch giao cảm trước, phân bố các túi tinh, ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, cơ bắp hành niệu và cổ bàng quang làm cho chúng co lại theo một cách phối hợp với nhau để đạt được sự xuất tinh. Dapoxetine điều biến phản xạ xuất tinh này ở chuột.
    DƯỢC ĐỘNG HỌC

    Hấp thụ
    Dapoxetine được hấp thu nhanh với nồng độ trong huyết tương tối đa (Cmax) xảy ra khoảng 1-2 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối là 42% (khoảng 15-76%), và tăng tỷ lệ phơi nhiễm (AUC và Cmax) quan sát được ở liều 30 và 60 mg. Sau nhiều liều, giá trị diện tích dưới đường cong (AUC) cho cả dapoxetine và các chất chuyển hóa hoạt tính desmethyldapoxetine (DED) sẽ tăng khoảng 50% so với giá trị AUC của liều duy nhất.
    Uống thuốc với một bữa ăn với lượng chất béo cao làm giảm  nhẹ Cmax (10%) và tăng nhẹ AUC (12%) của dapoxetine và làm chậm trễ thời gian để dapoxetine đạt nồng độ đỉnh. Những thay đổi này không đáng kể về mặt lâm sàng. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.
    Phân bố
    Hơn 99% dapoxetine  gắn kết với protein huyết thanh người. Khoảng 98,5% chất chuyển hóa hoạt tính desmethyl dapoxetine (DED) gắn kết với protein. Thể tích phân bố của dapoxetine ở trạng thái ổn định là 162 L.
    Chuyển hóa
    Nghiên cứu in vitro cho thấy dapoxetine được chuyển hóa bởi nhiều hệ thống enzym trong gan và thận, chủ yếu là CYP2D6, CYP3A4, và flavin monooxygenase (FMO1). Sau một liều  14C-dapoxetine, dapoxetine được chuyển hóa rộng rãi thành nhiều chất chủ yếu qua con đường chuyển hóa sinh học sau đây: N-oxy hóa, N-demethyl hóa, naphthyl hydroxyl hóa, glucuronid hóa và sulfat hóa. Đã có bằng chứng về chuyển hóa lần đầu trước tuần hoàn sau khi uống thuốc.
    Dạng dapoxetine chưa chuyển hóa và dapoxetine-N-oxid là các gốc thuốc lưu hành chủ yếu trong huyết tương. Nghiên cứu gắn kết và vận chuyển trong in-vitro cho thấy dapoxetine-N-oxid là chất không hoạt tính. Chất chuyển hóa khác bao gồm desmethyldapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm ít hơn 3% trong tổng số những chất liên quan lưu thông trong huyết tương. Những nghiên cứu in vitro cho thấy gắn kết của DED là tương đương với dapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm khoảng 50% hiệu lực của dapoxetine.
    Thải trừ
    Các chất chuyển hóa của dapoxetine được thải trừ chủ yếu trong nước tiểu dưới dạng liên hợp. Hoạt chất có hoạt tính không thay đổi không được phát hiện trong nước tiểu. Sau khi uống, dapoxetine có thời gian bán thải ban đầu khoảng 1,5 giờ, với nồng độ trong huyết tương ít hơn 5% nồng độ đỉnh trong 24 giờ sau uống, và thời gian bán thải cuối là khoảng 19 giờ. Thời gian bán thải cuối của DED là khoảng 19 giờ.
    – Dược động học ở các nhóm người đặc biệt
    Chất chuyển hóa DED góp phần vào tác dụng dược lý của Rilixetin, đặc biệt là khi diện tiếp xúc của DED được tăng lên.
    Dân tộc
    Phân tích của các nghiên cứu dược lý lâm sàng liều duy nhất sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người da trắng, da đen, gốc Tây Ban Nha và châu Á. Một nghiên cứu lâm sàng tiến hành để so sánh dược động học của dapoxetine trong các đối tượng người Nhật Bản và da trắng cho thấy mức cao hơn 10% – 20% (AUC và Cmax) của dapoxetine ở người dân Nhật Bản do trọng lượng cơ thể thấp hơn.
    Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên)
    Các phân tích của một nghiên cứu lâm sàng liều duy nhất dược sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong các thông số dược động học (Cmax, AUCinf, Tmax) giữa nam giới lớn tuổi khỏe mạnh và nam thanh niên khỏe mạnh. Tính hiệu quả và an toàn chưa được thhiết lập ở nhóm tuổi này.
    Người suy thận
    Một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng một liều dapoxetine duy nhất 60 mg đã được tiến hành ở những người có mức độ suy thận nhẹ (CrCl 50-80 ml/phút), mức độ trung bình (CrCl 30 đến <50 ml/phút), và suy thận nặng (CrCl <30 mL/phút) và ở các đối tượng có chức năng thận bình thường (CrCl> 80 ml/phút). Không có xu hướng rõ ràng gia tăng AUC dapoxetine khi chức năng thận suy giảm. AUC ở người suy thận nặng xấp xỉ 2 lần AUC ở các đối tượng có chức năng thận bình thường, mặc dù có những dữ liệu giới hạn ở những bệnh nhân bị suy thận nặng. Dược động học của dapoxetine chưa được đánh giá ở bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo.
    Người suy gan
    Ở những bệnh nhân bị suy gan nhẹ, Cmax của dapoxetine giảm 28% và AUC không thay đổi. Cmax và AUC của phần hoạt tính (tổng lượng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine) giảm 30% và 5%, tương ứng. Ở những bệnh nhân bị suy gan vừa phải, Cmax của dapoxetine về cơ bản không thay đổi (giảm 3%) và AUC tăng 66%. Cmax và AUC của phần hoạt tính tương ứng không thay đổi và tăng gấp đôi.
    Ở những bệnh nhân bị suy gan nặng, Cmax của dapoxetine giảm 42% nhưng AUC tăng khoảng 223%. Cmax và AUC của phần hoạt tính thay đổi tương tự.
    CYP2D6 đa hình        
                                                                                        
    Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng liều duy nhất 60 mg dapoxetine, nồng độ trong huyết tương ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém cao hơn những người có sự chuyển hóa bình thường của CYP2D6 (cao hơn khoảng 31% đối với Cmax và cao hơn 36% đối với AUCinf của dapoxetine và cao hơn 98% đối với Cmax và 161 % cao hơn đối với AUCinf của desmethyldapoxetine). Các phần hoạt tính của dapoxetine có thể tăng lên khoảng 46% với Cmax và khoảng 90% với AUC. Sự gia tăng này có thể dẫn đến một tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều. Tính an toàn của dapoxetine ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém là mối quan tâm đặc biệt với trong việc suy xét điều trị đồng thời các thuốc khác mà có thể ức chế sự chuyển hóa của dapoxetine như những chất ức chế CYP3A4 vừa phải và mạnh.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Nam giới trưởng thành (từ 18 tuổi đến 64 tuổi):
    Liều khởi đầu khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân là 30 mg, uống khoảng 1-3 giờ trước khi sinh hoạt tình dục. Không nên bắt đầu điều trị bằng Rilixetin với liều 60 mg.
    Không nên sử dụng liên tục hàng ngày và chỉ nên dùng khi có dự định sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên dùng thường xuyên hơn một lần cách nhau 24 giờ.
    Nếu đáp ứng cá nhân ở liều dapoxetine 30 mg không đủ và các bệnh nhân chưa trải qua phản ứng phụ vừa phải hoặc nặng hay triệu chứng báo hiệu ngất xỉu, liều có thể được tăng lên đến liều tối đa dapoxetine 60 mg và uống khi cần khoảng 1-3 giờ trước hoạt động tình dục. Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng bất lợi cao hơn khi dùng với liều 60 mg.
    Nếu bệnh nhân trải qua phản ứng tư thế vào liều khởi đầu, không được tăng liều đến dapoxetine 60 mg.
    Đánh giá cẩn thận nguy cơ và lợi ích cá nhân của Rilixetin nên được thực hiện bởi các bác sĩ sau bốn tuần điều trị đầu tiên (hoặc ít nhất là sau 6 liều điều trị) để xác định xem việc tiếp tục điều trị với Rilixetin là thích hợp hay không.
    – Bệnh nhân suy thận
    Cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình. Rilixetin được khuyến cáo không dùng cho bệnh nhân suy thận nặng.
    – Bệnh nhân suy gan
    Rilixetin chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan trung bình và nặng.
    – Các trường hợp chuyển hóa kém đã được biết của CYP2D6 hoặc bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế CYP2D6 mạnh
    Cần thận trọng khi tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân được biết là chuyển hóa kém CYP2D6 hoặc ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với thuốc ức chế CYP2D6 mạnh.
    – Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế vừa phải hoặc mạnh CYP3A4
    Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 là chống chỉ định. Liều nên được giới hạn 30 mg ở người bệnh được điều trị đồng thời cùng với thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải và cần thận trọng.
    Cách dùng:
    Thuốc sử dụng đường uống, viên nén nên được nuốt toàn bộ để tránh vị đắng, uống ít nhất một ly nước đầy. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không có thức ăn.
    QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
    Không có trường hợp nào quá liều đã được báo cáo.
    Không có biến cố bất lợi trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng của Rilixetin với liều hàng ngày lên đến 240 mg (hai liều 120 mg cách nhau 3 giờ đồng hồ). Nói chung, các triệu chứng của quá liều với SSRIs bao gồm các phản ứng bất lợi qua trung gian serotonin như buồn ngủ, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn và nôn, nhịp tim nhanh, run, kích động và chóng mặt.
    Trong trường hợp quá liều, các biện pháp hỗ trợ cần được tiến hành theo như yêu cầu. Do sự gắn kết vào protein cao và thể tích phân bố lớn của dapoxetine hydroclorid, gây lợi tiểu bắt buộc, thẩm tách máu, lọc máu hấp phụ và lọc máu không có khả năng mang lại lợi ích. Không có thuốc giải độc đặc trưng cho Rilixetin đã được biết đến.

    Chống chỉ định:

    – Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc

    – Điều kiện bệnh lý tim đáng kể như:

    Suy tim (NYHA II-IV)

    Bất thường dẫn truyền như block nhĩ thất hoặc hội chứng nút xoang

    Bệnh tim thiếu máu cục bộ

    Bệnh van tim

    Có tiền sử ngất.

    – Tiền sử hưng cảm hoặc trầm cảm nặng.

    – Dùng đồng thời với các thuốc ức chế enzym monoamin oxidase (MAOIs), hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với MAOI. Tương tự như vậy, một hoạt chất MAOI không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi đã ngưng Rilixetin.

    – Dùng đồng thời với thioridazin, hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với thioridazin. Tương tự như vậy, thioridazin không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin.

    – Dùng đồng thời với các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin (ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrin (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs)) hoặc các sản phẩm thảo dược/thuốc khác có tác dụng lên serotonin (ví dụ, L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, lithium, St. John Wort (Hypericum perforatum)) hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với các sản phẩm thuốc/thảo dược này. Tương tự như vậy, các sản phẩm thuốc/thảo dược không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin.

    – Điều trị đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazadon, nelfinavir, atazanavir,…

    – Suy gan vừa và nặng.

    Tương tác thuốc:

    – Ảnh hưởng của các sản phẩm thuốc được dùng điều trị phối hợp lên dược động học của dapoxetine.

    Trong các nghiên cứu in vitro trong ti lạp thể của gan, thận và ruột người cho thấy dapoxetine được chuyển hóa chủ yếu bởi enzym CYP2D6, CYP3A4 và enzym flavin monooxygenase 1 (FMO1). Vì vậy, các thuốc ức chế các enzym này có thể làm giảm thải trừ dapoxetine.

    – Các chất ức chế CYP3A4

    Các chất ức chế CYP3A4 mạnh. Việc dùng ketoconazole (200 mg hai lần mỗi ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tương ứng với 35% và 99%. Xét về sự đóng góp của dapoxetine và desmethyl dapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 25% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4.

    Sự gia tăng Cmax và AUC của phần hoạt tính có thể được tăng lên rõ rệt trong một bộ phận nhóm tuổi thiếu enzym CYP2D6, tức là, CYP2D6 chuyển hóa kém, hay kết hợp với các chất ức chế mạnh CYP2D6.

    Vì vậy, sử dụng đồng thời Rilixetin và các chất ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazodon, nelfinavir và atazanavir, được chống chỉ định.

    Các chất ức chế CYP3A4 vừa phải. Dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải (ví dụ, erythromycin, clarithromycin, fluconazol, amprenavir, fosamprenavir, aprepitant, verapamil, diltiazem) cũng có thể dẫn đến tăng đáng kể khả năng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine, đặc biệt là ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém. Liều tối đa dapoxetine nên là 30 mg nếu dapoxetine được kết hợp với bất kỳ các thuốc này.

    – Các chất ức chế CYP2D6 mạnh

    Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tăng tương ứng 50% và 88%, trong sự hiện diện của fluoxetin (60 mg/ngày trong 7 ngày). Xem xét sự đóng góp của cả dapoxetine và desmethyldapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 50% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế CYP2D6 mạnh. Sự tăng lên về Cmax và AUC của phần hoạt tính tương tự như những gì được mong đợi ở người có CYP2D6 chuyển hóa kém và có thể dẫn đến một tỷ lệ cao và mức độ nghiêm trọng hơn của các tác dụng phụ phụ thuộc liều.

    – Các chất ức chế PDE5

    Rilixetin không nên được sử dụng ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế PDE5, điều đó có thể là do giảm khả năng chịu giảm huyết áp thế đứng. Dược động học của dapoxetine (60 mg) kết hợp với tadalafil (20 mg) và sildenafil (100 mg) đã được đánh giá trong một nghiên cứu chéo liều duy nhất. Tadalafil không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine. Sildenafil gây ra những thay đổi nhỏ về mặt dược động học của dapoxetine (tăng 22% trong AUCinf và tăng 4% trong Cmax), điều không mong đợi là có ý nghĩa lâm sàng.

    Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế PDE5, Rilixetin có thể dẫn đến tụt huyết áp tư thế đứng. Tính hiệu quả và an toàn của Rilixetin ở bệnh nhân bao gồm cả xuất tinh sớm và liệt dương được điều trị đồng thời Rilixetin với thuốc ức chế PDE5 chưa được thành lập.

    – Ảnh hưởng của dapoxetine trên dược động học của thuốc dùng đồng thời

    Tamsulosin:

    Dùng đồng thời liều đơn hoặc đa 30 mg hoặc 60 mg dapoxetine cho bệnh nhân dùng liều hàng ngày của tamsulosin không dẫn đến những thay đổi về dược động học của tamsulosin. Việc bổ sung các dapoxetine cùng với tamsulosin không gây ra một sự thay đổi trong triệu chứng thế đứng và không có sự khác biệt trong triệu chứng thế đứng giữa tamsulosin kết hợp với cả 30 hay 60 mg dapoxetine và tamsulosin một mình. Tuy nhiên, Rilixetin nên được sử dụng một cách thận trọng ở những bệnh nhân sử dụng đối kháng thụ thể alpha adrenergic vì có thể là do khả năng chịu áp thế đứng giảm.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2D6:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày), tiếp theo là một liều 50 mg duy nhất của desipramin làm tăng Cmax trung bình và AUCinf của desipramin khoảng 11% và 19%, tương ứng, so với desipramine được dùng một mình. Dapoxetine có thể dẫn đến tình trạng gia tăng tương tự trong các nồng độ trong huyết tương của các thuốc khác chuyển hóa bởi CYP2D6.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP3A4:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) làm giảm AUCinf của midazolam (8 mg liều duy nhất) khoảng 20% ​​(nằm trong khoảng -60 đến + 18%). Sự liên quan lâm sàng về tính hiệu quả lên midazolam có thể sẽ nhỏ trong hầu hết các bệnh nhân. Sự gia tăng trong hoạt tính của CYP3A có thể có liên quan đến lâm sàng ở một số cá nhân dùng điều trị đồng thời bằng thuốc chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A và với một phạm vi điều trị hẹp.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C19:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ức chế sự chuyển hóa của omeprazol một liều 40 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của các chất nền CYP2C19 khác.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C9:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học của glyburid một liều 5 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của chất nềnCYP2C9 khác.

    Warfarin và thuốc ảnh hưởng đến đông máu và/hoặc chức năng của tiểu cầu:

    Không có dữ liệu đánh giá vê tính hiệu quả sử dụng mãn tính của warfarin với dapoxetine; do đó, cần thận trọng khi dùng dapoxetine ở các bệnh nhân dùng warfarin kinh niên. Trong một nghiên cứu dược động học, dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học (PT hoặc INR) của warfarin sau một liều duy nhất 25 mg.

    Đã có báo cáo về chảy máu bất thường với SSRIs

    Ethanol:

    Dùng đồng thời một liều duy nhất của ethanol, 0,5 g/kg (khoảng 2 ly), không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine (60 mg liều duy nhất). Tuy nhiên, dapoxetine kết hợp với ethanol làm tăng buồn ngủ và giảm đáng kể sự tỉnh táo. Chỉ số dược lực học của suy giảm nhận thức (Digit Vigilance Speed, Digit Symbol Substitution Test) cũng cho thấy một triệu chứng phụ khi dapoxetine được dùng chung với ethanol. Sử dụng đồng thời chất có cồn và dapoxetine tăng khả năng hoặc mức độ nghiêm trọng của các phản ứng phụ như chóng mặt, buồn ngủ, phản xạ chậm. Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng các tác động liên quan đến chất có cồn và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên nên tránh uống chất có cồn trong khi đang được điều trị với Rilixetin.

    Tác dụng phụ:

    – Rất thường xuyên, ADR > 1/10

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Chóng mặt, đau đầu

    Rối loạn hệ tiêu hóa: buồn nôn

    – Thường xuyên, 1/10 ≤ ADR Rối loạn tâm thần: Lo âu, kích động, bồn chồn, mất ngủ, giấc mơ bất thường, ham muốn giảm

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Buồn ngủ, rối loạn sự chú ý, run, dị cảm

    Rối loạn mắt: tầm nhìn mờ

    Rối loạn tai: ù tai

    Rối loạn mạch máu: da đỏ ửng do máu tập trung nhiều ở dưới da

    Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: viêm xoang, ngáp

    Rối loạn hệ tiêu hóa: Tiêu chảy, nôn, táo bón, đau bụng, đau bụng trên, rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, dạ dày khó chịu, bụng trướng, miệng khô

    Rối loạn da và mô dưới da: tăng tiết mồ hôi

    Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: liệt dương

    Rối loạn chung: mệt mỏi, khó chịu

    Khảo sát: huyết áp tăng

    – Ít gặp, 1/1000 ≤ ADR Rối loạn tâm thần: Trầm cảm, tâm trạng chán nản, tâm trạng phấn chấn, tâm trạng thay đổi, căng thẳng, lãnh đạm, thờ ơ, trạng thái lú lẫn, mất định hướng, ý nghĩ bất thường, tăng cảnh giác, rối loạn bất thường về giấc ngủ, chứng mất ngủ ngay từ đầu, chứng mất ngủ vào nữa đêm, ác mộng, nghiến răng, ham muốn tình dục giảm, rối loạn khoái cảm

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Ngất, ngất xỉu phế vị-mạch, chóng mặt tư thế, chứng ngồi không yên, loạn vị giác, ngủ nhiều, ngủ lịm, an thần, giảm ý thức

    Rối loạn mắt: giãn đồng tử, đau mắt, trở ngại tầm nhìn

    Rối loạn tai: chóng mặt

    Rối loạn tim mạch: nghẽn nút xoang, nhịp tim chậm xoang, nhịp tim nhanh

    Rối loạn mạch máu: hạ huyết áp, tăng huyết áp tâm thu, cảm giác bốc hỏa

    Rối loạn hệ tiêu hóa: bụng khó chịu, khó chịu vùng thượng vị

    Rối loạn da và mô dưới da: ngứa, mồ hôi lạnh

    Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: xuất tinh thất bại, nam rối loạn cực khoái, dị cảm của sinh dục nam

    Rối loạn chung: suy nhược, cảm giác nóng, cảm giác bồn chồn, cảm giác bất thường, cảm giác say rượu

    Khảo sát: tăng nhịp tim, huyết áp tâm trương tăng, huyết áp thế đứng tăng

    – Hiếm gặp, 1/10000 ≤ ADR Rối loạn hệ thống thần kinh: chóng mặt sau khi gắng sức, buồn ngủ đột ngột

    Rối loạn hệ tiêu hóa: đại tiện gấp

    Chú ý đề phòng:

    – Khuyến cáo chung

    Rilixetin không nên sử dụng ở nam giới không được chẩn đoán bị xuất tinh sớm. Tính an toàn chưa được xác lập và không có dữ liệu về tác động trì hoãn xuất tinh ở nam giới không xuất tinh sớm.

    – Các hình thức khác của rối loạn chức năng tình dục

    Trước khi điều trị, bệnh nhân với các hình thức khác của rối loạn chức năng tình dục, trong đó gồm liệt dương, nên được đánh giá cẩn thận bởi các bác sĩ. Rilixetin không nên được sử dụng ở những người bị liệt dương, người đang sử dụng thuốc ức chế PDE5.

    – Hạ huyết áp tư thế

    Trước khi bắt đầu điều trị, cần kiểm tra cẩn thận bệnh sử các triệu chứng liên quan đến tư thế được thực hiện bởi các bác sĩ. Một bài kiểm tra tư thế nên được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị (huyết áp và nhịp tim, nằm ngửa và đứng). Trong trường hợp có dữ liệu về bệnh sử hoặc bị nghi ngờ có phản ứng tư thế, nên tránh dùng Rilixetin để điều trị.

    Hạ huyết áp tư thế đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Các bác sĩ kê đơn nên tư vấn cho bệnh nhân trước đó nếu người ấy có triệu chứng, chẳng hạn như cảm giác lâng lâng ngay sau khi đứng, thì bệnh nhân nên nằm xuống để đầu mình thấp hơn so với phần còn lại của cơ thể hoặc ngồi xuống với đầu ở giữa hai đầu gối cho đến khi triệu chứng biến mất. Các bác sĩ kê đơn cũng nên thông báo cho bệnh nhân không đứng lên một cách nhanh chóng sau khi nằm hoặc ngồi lâu.

    – Tự tử hoặc có ý nghĩ tự tử

    Thuốc chống trầm cảm, bao gồm cả thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên serotonin, tăng nguy cơ so với giả dược về suy nghĩ tự tử và tự tử trong các nghiên cứu ngắn hạn ở trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm và rối loạn tâm thần khác. Nghiên cứu ngắn hạn không cho thấy sự gia tăng nguy cơ tự tử với thuốc chống trầm cảm so với giả dược ở người lớn hơn 24 tuổi.

    – Ngất xỉu

    Bệnh nhân cần được cảnh báo để tránh tình trạng có thể gây ra chấn thương, bao gồm cả nguy hiểm khi lái xe hoặc điều khiển máy móc, nếu ngất hoặc các triệu chứng báo trước của nó như chóng mặt hoặc đầu lâng lâng xảy ra.

    Các triệu chứng có thể báo trước như buồn nôn, chóng mặt/đầu óc quay cuồng, và toát mồ hôi đã được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng dapoxetine so với giả dược.

    – Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch

    Bệnh nhân có bệnh tim mạch tiềm ẩn đã được loại trừ khỏi giai đoạn 3 thử nghiệm lâm sàng. Nguy cơ biến chứng xấu tim mạch từ ngất xỉu (ngất do tim và ngất do các nguyên nhân khác) được gia tăng ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch về cấu trúc tiềm ẩn (ví dụ tắc nghẽn dòng dẫn lưu, bệnh van tim, hẹp động mạch cảnh và bệnh động mạch vành). Không đủ dữ liệu để xác định xem liệu nguy cơ gia tăng này có kéo dài đến ngất xỉu phế vị-mạch ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch tiềm ẩn.

    – Sử dụng với các thuốc kích thích

    Bệnh nhân nên được khuyên không nên sử dụng Rilixetin kết hợp với các chất kích thích. Thuốc kích thích tác động lên serotonin như ketamin, methylenedioxymethamphetamin (MDMA) và diethylamide axit lysergic (LSD) có thể dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng nếu kết hợp với Rilixetin. Những phản ứng này không giới hạn bao gồm loạn nhịp tim, tăng thân nhiệt, và hội chứng serotonin. Sử dụng Rilixetin với thuốc kích thích với tính chất an thần như ma túy và các benzodiazepin có thể làm tăng buồn ngủ và chóng mặt.

    – Chất có cồn

    Bệnh nhân không nên sử dụng Rilixetin kết hợp với chất có cồn.

    Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng tác động lên tâm thần kinh và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất ý thức tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên tránh uống chất có cồn trong khi đang dùng Rilixetin.

    – Các sản phẩm thuốc có đặc tính giãn mạch

    Rilixetin nên được dùng một cách thận trọng ở bệnh nhân dùng các thuốc có đặc tính giãn mạch (như chất đối kháng thụ thể alpha adrenergic và các nitrat) có thể là do giảm khả năng chịu đựng huyết áp tư thế đứng.

    – Các chất ức chế CYP3A4 vừa phải

    Cần thận trọng ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải và liều dùng được hạn chế 30 mg.

    – Các chất ức chế CYP2D6 mạnh

    Cần thận trọng khi tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế CYP2D6 mạnh hoặc nếu tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân được biết là có enzym CYP2D6 chuyển hóa kém, vì điều này có thể làm tăng mức độ phơi nhiễm, trong đó có thể dẫn đến tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều.

    – Hưng cảm

    Rilixetin không nên sử dụng ở những bệnh nhân có tiền sử hưng cảm nhẹ hoặc rối loạn lưỡng cực và cần được ngưng ở bất kỳ bệnh nhân nào có triệu chứng của những rối loạn này.

    – Co giật

    Do tiềm năng của SSRIs làm giảm ngưỡng co giật, Rilixetin nên ngưng điều trị ở bất kỳ bệnh nhân nào phát triển cơn co giật và tránh ở những bệnh nhân bị động kinh không ổn định. Bệnh nhân bị động kinh được kiểm soát nên được theo dõi cẩn thận.

    – Trẻ em

    Rilixetin không nên được sử dụng ở những người dưới 18 tuổi.

    – Rối loạn trầm cảm và/hoặc tâm thần

    Nam giới có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh trầm cảm tiềm ẩn cần được đánh giá trước khi điều trị với Rilixetin để loại trừ các rối loạn trầm cảm không được chẩn đoán. Điều trị đồng thời Rilixetin với các thuốc chống trầm cảm, bao gồm các thuốc thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên serotonin (SSRI) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin–norepinephrine (SNRIs), được chống chỉ định. Ngừng điều trị trầm cảm hoặc lo âu liên tục để bắt đầu với Rilixetin trong điều trị xuất tinh sớm là không nên. Rilixetin không được chỉ định cho các rối loạn tâm thần và không nên được sử dụng ở nam giới với những rối loạn này, chẳng hạn như tâm thần phân liệt, hoặc ở những người bị bệnh trầm cảm kèm theo, khi làm xấu hơn các triệu chứng liên quan với trầm cảm không thể loại trừ. Điều này có thể là kết quả của rối loạn tâm thần tiềm ẩn hoặc có thể là một kết quả của việc điều trị từ các sản phẩm thuốc. Các bác sĩ nên khuyến khích bệnh nhân báo cáo bất kỳ ý nghĩ hay cảm xúc chán nản bất cứ lúc nào và nếu có dấu hiệu/triệu chứng của bệnh trầm cảm phát triển trong thời gian điều trị, nên ngưng Rilixetin.

    – Xuất huyết

    Đã có báo cáo về việc chảy máu bất thường với SSRIs. Cần thận trọng ở bệnh nhân dùng Rilixetin, đặc biệt là trong việc sử dụng đồng thời với các thuốc được biết đến là ảnh hưởng đến chức năng của tiểu cầu (ví dụ, thuốc chống loạn thần không điển hình và các phenothiazin, acid acetylsalicylic, các thuốc chống viêm không steroid [NSAID], thuốc chống kết tập tiểu cầu) hoặc thuốc chống đông máu (ví dụ, warfarin), cũng như ở những bệnh nhân có tiền sử rối loạn chảy máu hoặc đông máu.

    – Suy thận

    Rilixetin được khuyến cáo không nên sử dụng cho bệnh nhân suy thận nặng và cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình.

    – Tác dụng khi ngừng thuốc

    Ngưng đột ngột SSRI được kê đơn kéo dài dùng trong điều trị rối loạn trầm cảm mãn tính đã được báo cáo kết quả với các triệu chứng sau đây: tâm trạng bồn chồn, dễ cáu gắt, lo âu, chóng mặt, rối loạn cảm giác (ví dụ, dị cảm như cảm giác điện giật), lo lắng, hoang mang, đau đầu, thờ ơ, rối loạn cảm xúc, mất ngủ và hưng cảm nhẹ.

    – Rối loạn mắt

    Việc sử dụng các Rilixetin liên quan với các hiệu ứng mắt như giãn đồng tử và đau mắt. Rilixetin nên được sử dụng một cách thận trọng ở những bệnh nhân có áp lực nội nhãn tăng hoặc những người có nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp góc đóng.

    – Không dung nạp lactose

    Những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp tình trạng không dung nạp galactose, sự thiếu các lactase Lapp hoặc hấp thu kém glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

    Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

    Rilixetin không được chỉ định để sử dụng cho phụ nữ.

    Nghiên cứu ở động vật không thấy tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến khả năng sinh sản, mang thai và sự phát triển phôi thai/thai nhi.

    Vẫn chưa biết liệu dapoxetine hoặc các chất chuyển hóa của nó được bài tiết qua sữa người mẹ hay không.

    Ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc:

    Rilixetin ít ảnh hưởng hoặc ở mức độ vừa phải lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt, sự rối loạn chú ý, ngất xỉu, mờ mắt và buồn ngủ đã được báo cáo trong các đối tượng dùng dapoxetine trong các thử nghiệm lâm sàng. Vì vậy, bệnh nhân cần được cảnh báo để tránh tình trạng chấn thương có thể gây ra, bao gồm cả nguy hiểm khi lái xe hoặc điều khiển máy móc.

    Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng sự tác động lên nhận thức thần kinh liên quan đến chất có cồn và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên không nên uống chất có cồn trong khi dùng Rilixetin.

    Thông tin thành phần Dapoxetine

    Dược lực:

    Dapoxetine hoạt động bằng cách ức chế vận chuyển serotonin, làm tăng hoạt động của serotonin ở khe hở sau synap, và kết quả là thúc đẩy sự chậm trễ xuất tinh. Là một thành viên của nhóm ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), dapoxetine ban đầu được tạo ra như một thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, không giống như các SSRI khác, dapoxetine được hấp thụ và loại bỏ nhanh chóng trong cơ thể.

    Chỉ định :

    Xuất tinh sớm ở nam giới độ tuổi 18-64 có các triệu chứng:
    (a) Xuất tinh dai dẳng và tái phát khi có kích thích tình dục ở mức độ tối thiểu, trước trong hoặc ngay sau khi thâm nhập, trước khi bệnh nhân có chủ định
    (b) Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm
    (c) Khó kiểm soát hiện tượng xuất tinh.

    Liều lượng – cách dùng:

    Khởi đầu 30 mg, uống trước khi quan hệ 1-3 giờ. Nếu không hiệu quả và tác dụng phụ có thể chấp nhận được: có thể tăng tới liều tối đa 60 mg. Liều tối đa khi sử dụng thường xuyên là 1 lần trong 24 giờ.
    Cách dùng: Có thể dùng lúc đói hoặc no: Nuốt cả viên thuốc với một ly đầy nước, cùng với thức ăn hoặc không.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn với thành phần thuốc. Bệnh lý tim mạch mạn tính như suy tim độ II-IV NYHA, block nhĩ thất cấp II-IV hoặc h/c xoang không được điều trị hoặc bệnh nhân đặt máy tạo nhịp, thiếu máu cơ tim rõ rệt, bệnh van tim mạn tính. Dùng đồng thời IMAO hoặc trong vòng 14 ngày kể từ khi ngừng điều trị IMAO & không dùng IMAO trong vòng 7 ngày sau khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thioridazine hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng sử dụng thioridazine & không dùng thioridazine trong vòng 7 ngày sau khi ngừng thuốc. Dùng đồng thời chất ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng hay thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng điều trị các thuốc trên & không dùng những thuốc này trong vòng 7 ngày từ khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thuốc ức chế mạnh CYP3A4.

    Tác dụng phụ

    Đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, khó ngủ, mệt mỏi.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Rilixetin và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Rilixetin bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Duraject – 60

    Thuốc Duraject – 60

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Duraject – 60 công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Duraject – 60 điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Duraject – 60 ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Duraject – 60

    Duraject - 60
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 1 vỉ x 4 viên

    Thành phần:

    Dapoxetin (dưới dạng Dapoxetin HCl) 60mg
    SĐK:VN-20722-17
    Nhà sản xuất: Akums Drugs & Pharmaceuticals Ltd. – ẤN ĐỘ
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH Dược Phẩm Y-Med
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Rilixetin được chỉ định để điều trị xuất tinh sớm ở nam giới trưởng thành, từ 18 đến 64 tuổi.
    Rilixetin chỉ nên chỉ định cho những bệnh nhân đáp ứng tất cả các tiêu chí sau:
    – Thời gian chờ xuất tinh trong âm đạo ít hơn hai phút.
    – Xuất tinh dai dẳng hoặc tái phát với sự kích thích tình dục tối thiểu trước, trong hoặc ngay sau khi thâm nhập và trước khi bệnh nhân có chủ định.
    – Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm.
    – Kiểm soát kém việc xuất tinh.
    – Tiền sử xuất tinh sớm trong hầu hết các lần giao hợp trong 6 tháng trước.
    Rilixetin nên được dùng theo yêu cầu điều trị trước khi sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên được kê đơn để trì hoãn xuất tinh ở nam giới mà không được chẩn đoán với xuất tinh sớm.
    DƯỢC LỰC HỌC
    Dapoxetine là chất ức chế có chọn lọc serotonin mạnh (SSRI) với IC50 là 1,12 nM, trong khi đó những chất chuyển hóa chính ở người là desmethyl dapoxetine (IC50 <1,0 nM) và didesmethyl dapoxetine (IC50 = 2,0 nM) là tương đương hoặc ít hiệu lực hơn (dapoxetine-N-oxid (IC50 = 282 nM)).
    Xuất tinh ở người chủ yếu qua trung gian của hệ thống thần kinh giao cảm. Con đường xuất tinh bắt nguồn từ một trung tâm phản xạ ở tủy sống, qua trung gian của thân não, bị ảnh hưởng đầu tiên bởi một số hạt nhân trong não (nhân trung gian và các hạt nhân cạnh não thất).
    Cơ chế tác động của dapoxetine trong xuất tinh sớm được cho là có liên quan đến sự ức chế tái hấp thu tế bào thần kinh serotonin và tiềm lực tiếp theo của hoạt động dẫn truyền thần kinh tại thụ thể trước và sau xináp.
    Ở chuột, dapoxetine ức chế sự phản xạ xuất tinh bằng cách tác động một mức độ ở phía trên cột sống trong nhân cạnh não thất (LPGi). Sợi hạch giao cảm trước, phân bố các túi tinh, ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, cơ bắp hành niệu và cổ bàng quang làm cho chúng co lại theo một cách phối hợp với nhau để đạt được sự xuất tinh. Dapoxetine điều biến phản xạ xuất tinh này ở chuột.
    DƯỢC ĐỘNG HỌC

    Hấp thụ
    Dapoxetine được hấp thu nhanh với nồng độ trong huyết tương tối đa (Cmax) xảy ra khoảng 1-2 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối là 42% (khoảng 15-76%), và tăng tỷ lệ phơi nhiễm (AUC và Cmax) quan sát được ở liều 30 và 60 mg. Sau nhiều liều, giá trị diện tích dưới đường cong (AUC) cho cả dapoxetine và các chất chuyển hóa hoạt tính desmethyldapoxetine (DED) sẽ tăng khoảng 50% so với giá trị AUC của liều duy nhất.
    Uống thuốc với một bữa ăn với lượng chất béo cao làm giảm  nhẹ Cmax (10%) và tăng nhẹ AUC (12%) của dapoxetine và làm chậm trễ thời gian để dapoxetine đạt nồng độ đỉnh. Những thay đổi này không đáng kể về mặt lâm sàng. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.
    Phân bố
    Hơn 99% dapoxetine  gắn kết với protein huyết thanh người. Khoảng 98,5% chất chuyển hóa hoạt tính desmethyl dapoxetine (DED) gắn kết với protein. Thể tích phân bố của dapoxetine ở trạng thái ổn định là 162 L.
    Chuyển hóa
    Nghiên cứu in vitro cho thấy dapoxetine được chuyển hóa bởi nhiều hệ thống enzym trong gan và thận, chủ yếu là CYP2D6, CYP3A4, và flavin monooxygenase (FMO1). Sau một liều  14C-dapoxetine, dapoxetine được chuyển hóa rộng rãi thành nhiều chất chủ yếu qua con đường chuyển hóa sinh học sau đây: N-oxy hóa, N-demethyl hóa, naphthyl hydroxyl hóa, glucuronid hóa và sulfat hóa. Đã có bằng chứng về chuyển hóa lần đầu trước tuần hoàn sau khi uống thuốc.
    Dạng dapoxetine chưa chuyển hóa và dapoxetine-N-oxid là các gốc thuốc lưu hành chủ yếu trong huyết tương. Nghiên cứu gắn kết và vận chuyển trong in-vitro cho thấy dapoxetine-N-oxid là chất không hoạt tính. Chất chuyển hóa khác bao gồm desmethyldapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm ít hơn 3% trong tổng số những chất liên quan lưu thông trong huyết tương. Những nghiên cứu in vitro cho thấy gắn kết của DED là tương đương với dapoxetine và didesmethyldapoxetine chiếm khoảng 50% hiệu lực của dapoxetine.
    Thải trừ
    Các chất chuyển hóa của dapoxetine được thải trừ chủ yếu trong nước tiểu dưới dạng liên hợp. Hoạt chất có hoạt tính không thay đổi không được phát hiện trong nước tiểu. Sau khi uống, dapoxetine có thời gian bán thải ban đầu khoảng 1,5 giờ, với nồng độ trong huyết tương ít hơn 5% nồng độ đỉnh trong 24 giờ sau uống, và thời gian bán thải cuối là khoảng 19 giờ. Thời gian bán thải cuối của DED là khoảng 19 giờ.
    – Dược động học ở các nhóm người đặc biệt
    Chất chuyển hóa DED góp phần vào tác dụng dược lý của Rilixetin, đặc biệt là khi diện tiếp xúc của DED được tăng lên.
    Dân tộc
    Phân tích của các nghiên cứu dược lý lâm sàng liều duy nhất sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa người da trắng, da đen, gốc Tây Ban Nha và châu Á. Một nghiên cứu lâm sàng tiến hành để so sánh dược động học của dapoxetine trong các đối tượng người Nhật Bản và da trắng cho thấy mức cao hơn 10% – 20% (AUC và Cmax) của dapoxetine ở người dân Nhật Bản do trọng lượng cơ thể thấp hơn.
    Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên)
    Các phân tích của một nghiên cứu lâm sàng liều duy nhất dược sử dụng 60 mg dapoxetine cho thấy không có sự khác biệt đáng kể trong các thông số dược động học (Cmax, AUCinf, Tmax) giữa nam giới lớn tuổi khỏe mạnh và nam thanh niên khỏe mạnh. Tính hiệu quả và an toàn chưa được thhiết lập ở nhóm tuổi này.
    Người suy thận
    Một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng một liều dapoxetine duy nhất 60 mg đã được tiến hành ở những người có mức độ suy thận nhẹ (CrCl 50-80 ml/phút), mức độ trung bình (CrCl 30 đến <50 ml/phút), và suy thận nặng (CrCl <30 mL/phút) và ở các đối tượng có chức năng thận bình thường (CrCl> 80 ml/phút). Không có xu hướng rõ ràng gia tăng AUC dapoxetine khi chức năng thận suy giảm. AUC ở người suy thận nặng xấp xỉ 2 lần AUC ở các đối tượng có chức năng thận bình thường, mặc dù có những dữ liệu giới hạn ở những bệnh nhân bị suy thận nặng. Dược động học của dapoxetine chưa được đánh giá ở bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo.
    Người suy gan
    Ở những bệnh nhân bị suy gan nhẹ, Cmax của dapoxetine giảm 28% và AUC không thay đổi. Cmax và AUC của phần hoạt tính (tổng lượng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine) giảm 30% và 5%, tương ứng. Ở những bệnh nhân bị suy gan vừa phải, Cmax của dapoxetine về cơ bản không thay đổi (giảm 3%) và AUC tăng 66%. Cmax và AUC của phần hoạt tính tương ứng không thay đổi và tăng gấp đôi.
    Ở những bệnh nhân bị suy gan nặng, Cmax của dapoxetine giảm 42% nhưng AUC tăng khoảng 223%. Cmax và AUC của phần hoạt tính thay đổi tương tự.
    CYP2D6 đa hình        
                                                                                        
    Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng sử dụng liều duy nhất 60 mg dapoxetine, nồng độ trong huyết tương ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém cao hơn những người có sự chuyển hóa bình thường của CYP2D6 (cao hơn khoảng 31% đối với Cmax và cao hơn 36% đối với AUCinf của dapoxetine và cao hơn 98% đối với Cmax và 161 % cao hơn đối với AUCinf của desmethyldapoxetine). Các phần hoạt tính của dapoxetine có thể tăng lên khoảng 46% với Cmax và khoảng 90% với AUC. Sự gia tăng này có thể dẫn đến một tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều. Tính an toàn của dapoxetine ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém là mối quan tâm đặc biệt với trong việc suy xét điều trị đồng thời các thuốc khác mà có thể ức chế sự chuyển hóa của dapoxetine như những chất ức chế CYP3A4 vừa phải và mạnh.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Nam giới trưởng thành (từ 18 tuổi đến 64 tuổi):
    Liều khởi đầu khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân là 30 mg, uống khoảng 1-3 giờ trước khi sinh hoạt tình dục. Không nên bắt đầu điều trị bằng Rilixetin với liều 60 mg.
    Không nên sử dụng liên tục hàng ngày và chỉ nên dùng khi có dự định sinh hoạt tình dục. Rilixetin không nên dùng thường xuyên hơn một lần cách nhau 24 giờ.
    Nếu đáp ứng cá nhân ở liều dapoxetine 30 mg không đủ và các bệnh nhân chưa trải qua phản ứng phụ vừa phải hoặc nặng hay triệu chứng báo hiệu ngất xỉu, liều có thể được tăng lên đến liều tối đa dapoxetine 60 mg và uống khi cần khoảng 1-3 giờ trước hoạt động tình dục. Tỷ lệ và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng bất lợi cao hơn khi dùng với liều 60 mg.
    Nếu bệnh nhân trải qua phản ứng tư thế vào liều khởi đầu, không được tăng liều đến dapoxetine 60 mg.
    Đánh giá cẩn thận nguy cơ và lợi ích cá nhân của Rilixetin nên được thực hiện bởi các bác sĩ sau bốn tuần điều trị đầu tiên (hoặc ít nhất là sau 6 liều điều trị) để xác định xem việc tiếp tục điều trị với Rilixetin là thích hợp hay không.
    – Bệnh nhân suy thận
    Cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình. Rilixetin được khuyến cáo không dùng cho bệnh nhân suy thận nặng.
    – Bệnh nhân suy gan
    Rilixetin chống chỉ định ở bệnh nhân suy gan trung bình và nặng.
    – Các trường hợp chuyển hóa kém đã được biết của CYP2D6 hoặc bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế CYP2D6 mạnh
    Cần thận trọng khi tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân được biết là chuyển hóa kém CYP2D6 hoặc ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với thuốc ức chế CYP2D6 mạnh.
    – Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế vừa phải hoặc mạnh CYP3A4
    Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 là chống chỉ định. Liều nên được giới hạn 30 mg ở người bệnh được điều trị đồng thời cùng với thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải và cần thận trọng.
    Cách dùng:
    Thuốc sử dụng đường uống, viên nén nên được nuốt toàn bộ để tránh vị đắng, uống ít nhất một ly nước đầy. Rilixetin có thể uống cùng hoặc không có thức ăn.
    QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
    Không có trường hợp nào quá liều đã được báo cáo.
    Không có biến cố bất lợi trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng của Rilixetin với liều hàng ngày lên đến 240 mg (hai liều 120 mg cách nhau 3 giờ đồng hồ). Nói chung, các triệu chứng của quá liều với SSRIs bao gồm các phản ứng bất lợi qua trung gian serotonin như buồn ngủ, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn và nôn, nhịp tim nhanh, run, kích động và chóng mặt.
    Trong trường hợp quá liều, các biện pháp hỗ trợ cần được tiến hành theo như yêu cầu. Do sự gắn kết vào protein cao và thể tích phân bố lớn của dapoxetine hydroclorid, gây lợi tiểu bắt buộc, thẩm tách máu, lọc máu hấp phụ và lọc máu không có khả năng mang lại lợi ích. Không có thuốc giải độc đặc trưng cho Rilixetin đã được biết đến.

    Chống chỉ định:

    – Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc

    – Điều kiện bệnh lý tim đáng kể như:

    Suy tim (NYHA II-IV)

    Bất thường dẫn truyền như block nhĩ thất hoặc hội chứng nút xoang

    Bệnh tim thiếu máu cục bộ

    Bệnh van tim

    Có tiền sử ngất.

    – Tiền sử hưng cảm hoặc trầm cảm nặng.

    – Dùng đồng thời với các thuốc ức chế enzym monoamin oxidase (MAOIs), hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với MAOI. Tương tự như vậy, một hoạt chất MAOI không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi đã ngưng Rilixetin.

    – Dùng đồng thời với thioridazin, hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với thioridazin. Tương tự như vậy, thioridazin không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin.

    – Dùng đồng thời với các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin (ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRI), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrin (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs)) hoặc các sản phẩm thảo dược/thuốc khác có tác dụng lên serotonin (ví dụ, L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, lithium, St. John Wort (Hypericum perforatum)) hoặc trong vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng điều trị với các sản phẩm thuốc/thảo dược này. Tương tự như vậy, các sản phẩm thuốc/thảo dược không nên dùng trong vòng 7 ngày sau khi ngưng Rilixetin.

    – Điều trị đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazadon, nelfinavir, atazanavir,…

    – Suy gan vừa và nặng.

    Tương tác thuốc:

    – Ảnh hưởng của các sản phẩm thuốc được dùng điều trị phối hợp lên dược động học của dapoxetine.

    Trong các nghiên cứu in vitro trong ti lạp thể của gan, thận và ruột người cho thấy dapoxetine được chuyển hóa chủ yếu bởi enzym CYP2D6, CYP3A4 và enzym flavin monooxygenase 1 (FMO1). Vì vậy, các thuốc ức chế các enzym này có thể làm giảm thải trừ dapoxetine.

    – Các chất ức chế CYP3A4

    Các chất ức chế CYP3A4 mạnh. Việc dùng ketoconazole (200 mg hai lần mỗi ngày trong 7 ngày) làm tăng Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tương ứng với 35% và 99%. Xét về sự đóng góp của dapoxetine và desmethyl dapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 25% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4.

    Sự gia tăng Cmax và AUC của phần hoạt tính có thể được tăng lên rõ rệt trong một bộ phận nhóm tuổi thiếu enzym CYP2D6, tức là, CYP2D6 chuyển hóa kém, hay kết hợp với các chất ức chế mạnh CYP2D6.

    Vì vậy, sử dụng đồng thời Rilixetin và các chất ức chế mạnh CYP3A4 như ketoconazol, itraconazol, ritonavir, saquinavir, telithromycin, nefazodon, nelfinavir và atazanavir, được chống chỉ định.

    Các chất ức chế CYP3A4 vừa phải. Dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải (ví dụ, erythromycin, clarithromycin, fluconazol, amprenavir, fosamprenavir, aprepitant, verapamil, diltiazem) cũng có thể dẫn đến tăng đáng kể khả năng tiếp xúc của dapoxetine và desmethyldapoxetine, đặc biệt là ở những người có CYP2D6 chuyển hóa kém. Liều tối đa dapoxetine nên là 30 mg nếu dapoxetine được kết hợp với bất kỳ các thuốc này.

    – Các chất ức chế CYP2D6 mạnh

    Cmax và AUCinf của dapoxetine (60 mg liều duy nhất) tăng tương ứng 50% và 88%, trong sự hiện diện của fluoxetin (60 mg/ngày trong 7 ngày). Xem xét sự đóng góp của cả dapoxetine và desmethyldapoxetine, Cmax của phần hoạt tính có thể được tăng lên khoảng 50% và AUC của phần hoạt tính có thể tăng gấp đôi nếu dùng cùng với các thuốc ức chế CYP2D6 mạnh. Sự tăng lên về Cmax và AUC của phần hoạt tính tương tự như những gì được mong đợi ở người có CYP2D6 chuyển hóa kém và có thể dẫn đến một tỷ lệ cao và mức độ nghiêm trọng hơn của các tác dụng phụ phụ thuộc liều.

    – Các chất ức chế PDE5

    Rilixetin không nên được sử dụng ở những bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế PDE5, điều đó có thể là do giảm khả năng chịu giảm huyết áp thế đứng. Dược động học của dapoxetine (60 mg) kết hợp với tadalafil (20 mg) và sildenafil (100 mg) đã được đánh giá trong một nghiên cứu chéo liều duy nhất. Tadalafil không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine. Sildenafil gây ra những thay đổi nhỏ về mặt dược động học của dapoxetine (tăng 22% trong AUCinf và tăng 4% trong Cmax), điều không mong đợi là có ý nghĩa lâm sàng.

    Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế PDE5, Rilixetin có thể dẫn đến tụt huyết áp tư thế đứng. Tính hiệu quả và an toàn của Rilixetin ở bệnh nhân bao gồm cả xuất tinh sớm và liệt dương được điều trị đồng thời Rilixetin với thuốc ức chế PDE5 chưa được thành lập.

    – Ảnh hưởng của dapoxetine trên dược động học của thuốc dùng đồng thời

    Tamsulosin:

    Dùng đồng thời liều đơn hoặc đa 30 mg hoặc 60 mg dapoxetine cho bệnh nhân dùng liều hàng ngày của tamsulosin không dẫn đến những thay đổi về dược động học của tamsulosin. Việc bổ sung các dapoxetine cùng với tamsulosin không gây ra một sự thay đổi trong triệu chứng thế đứng và không có sự khác biệt trong triệu chứng thế đứng giữa tamsulosin kết hợp với cả 30 hay 60 mg dapoxetine và tamsulosin một mình. Tuy nhiên, Rilixetin nên được sử dụng một cách thận trọng ở những bệnh nhân sử dụng đối kháng thụ thể alpha adrenergic vì có thể là do khả năng chịu áp thế đứng giảm.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2D6:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày), tiếp theo là một liều 50 mg duy nhất của desipramin làm tăng Cmax trung bình và AUCinf của desipramin khoảng 11% và 19%, tương ứng, so với desipramine được dùng một mình. Dapoxetine có thể dẫn đến tình trạng gia tăng tương tự trong các nồng độ trong huyết tương của các thuốc khác chuyển hóa bởi CYP2D6.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP3A4:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) làm giảm AUCinf của midazolam (8 mg liều duy nhất) khoảng 20% ​​(nằm trong khoảng -60 đến + 18%). Sự liên quan lâm sàng về tính hiệu quả lên midazolam có thể sẽ nhỏ trong hầu hết các bệnh nhân. Sự gia tăng trong hoạt tính của CYP3A có thể có liên quan đến lâm sàng ở một số cá nhân dùng điều trị đồng thời bằng thuốc chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A và với một phạm vi điều trị hẹp.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C19:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ức chế sự chuyển hóa của omeprazol một liều 40 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của các chất nền CYP2C19 khác.

    Những sản phẩm thuốc chuyển hóa bởi CYP2C9:

    Đa liều dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học của glyburid một liều 5 mg duy nhất. Dapoxetine không ảnh hưởng đến dược động học của chất nềnCYP2C9 khác.

    Warfarin và thuốc ảnh hưởng đến đông máu và/hoặc chức năng của tiểu cầu:

    Không có dữ liệu đánh giá vê tính hiệu quả sử dụng mãn tính của warfarin với dapoxetine; do đó, cần thận trọng khi dùng dapoxetine ở các bệnh nhân dùng warfarin kinh niên. Trong một nghiên cứu dược động học, dapoxetine (60 mg/ngày trong 6 ngày) không ảnh hưởng đến dược động học hoặc dược lực học (PT hoặc INR) của warfarin sau một liều duy nhất 25 mg.

    Đã có báo cáo về chảy máu bất thường với SSRIs

    Ethanol:

    Dùng đồng thời một liều duy nhất của ethanol, 0,5 g/kg (khoảng 2 ly), không ảnh hưởng đến dược động học của dapoxetine (60 mg liều duy nhất). Tuy nhiên, dapoxetine kết hợp với ethanol làm tăng buồn ngủ và giảm đáng kể sự tỉnh táo. Chỉ số dược lực học của suy giảm nhận thức (Digit Vigilance Speed, Digit Symbol Substitution Test) cũng cho thấy một triệu chứng phụ khi dapoxetine được dùng chung với ethanol. Sử dụng đồng thời chất có cồn và dapoxetine tăng khả năng hoặc mức độ nghiêm trọng của các phản ứng phụ như chóng mặt, buồn ngủ, phản xạ chậm. Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng các tác động liên quan đến chất có cồn và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên nên tránh uống chất có cồn trong khi đang được điều trị với Rilixetin.

    Tác dụng phụ:

    – Rất thường xuyên, ADR > 1/10

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Chóng mặt, đau đầu

    Rối loạn hệ tiêu hóa: buồn nôn

    – Thường xuyên, 1/10 ≤ ADR Rối loạn tâm thần: Lo âu, kích động, bồn chồn, mất ngủ, giấc mơ bất thường, ham muốn giảm

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Buồn ngủ, rối loạn sự chú ý, run, dị cảm

    Rối loạn mắt: tầm nhìn mờ

    Rối loạn tai: ù tai

    Rối loạn mạch máu: da đỏ ửng do máu tập trung nhiều ở dưới da

    Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: viêm xoang, ngáp

    Rối loạn hệ tiêu hóa: Tiêu chảy, nôn, táo bón, đau bụng, đau bụng trên, rối loạn tiêu hóa, đầy hơi, dạ dày khó chịu, bụng trướng, miệng khô

    Rối loạn da và mô dưới da: tăng tiết mồ hôi

    Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: liệt dương

    Rối loạn chung: mệt mỏi, khó chịu

    Khảo sát: huyết áp tăng

    – Ít gặp, 1/1000 ≤ ADR Rối loạn tâm thần: Trầm cảm, tâm trạng chán nản, tâm trạng phấn chấn, tâm trạng thay đổi, căng thẳng, lãnh đạm, thờ ơ, trạng thái lú lẫn, mất định hướng, ý nghĩ bất thường, tăng cảnh giác, rối loạn bất thường về giấc ngủ, chứng mất ngủ ngay từ đầu, chứng mất ngủ vào nữa đêm, ác mộng, nghiến răng, ham muốn tình dục giảm, rối loạn khoái cảm

    Rối loạn hệ thống thần kinh: Ngất, ngất xỉu phế vị-mạch, chóng mặt tư thế, chứng ngồi không yên, loạn vị giác, ngủ nhiều, ngủ lịm, an thần, giảm ý thức

    Rối loạn mắt: giãn đồng tử, đau mắt, trở ngại tầm nhìn

    Rối loạn tai: chóng mặt

    Rối loạn tim mạch: nghẽn nút xoang, nhịp tim chậm xoang, nhịp tim nhanh

    Rối loạn mạch máu: hạ huyết áp, tăng huyết áp tâm thu, cảm giác bốc hỏa

    Rối loạn hệ tiêu hóa: bụng khó chịu, khó chịu vùng thượng vị

    Rối loạn da và mô dưới da: ngứa, mồ hôi lạnh

    Rối loạn hệ thống sinh sản và các tuyến vú: xuất tinh thất bại, nam rối loạn cực khoái, dị cảm của sinh dục nam

    Rối loạn chung: suy nhược, cảm giác nóng, cảm giác bồn chồn, cảm giác bất thường, cảm giác say rượu

    Khảo sát: tăng nhịp tim, huyết áp tâm trương tăng, huyết áp thế đứng tăng

    – Hiếm gặp, 1/10000 ≤ ADR Rối loạn hệ thống thần kinh: chóng mặt sau khi gắng sức, buồn ngủ đột ngột

    Rối loạn hệ tiêu hóa: đại tiện gấp

    Chú ý đề phòng:

    – Khuyến cáo chung

    Rilixetin không nên sử dụng ở nam giới không được chẩn đoán bị xuất tinh sớm. Tính an toàn chưa được xác lập và không có dữ liệu về tác động trì hoãn xuất tinh ở nam giới không xuất tinh sớm.

    – Các hình thức khác của rối loạn chức năng tình dục

    Trước khi điều trị, bệnh nhân với các hình thức khác của rối loạn chức năng tình dục, trong đó gồm liệt dương, nên được đánh giá cẩn thận bởi các bác sĩ. Rilixetin không nên được sử dụng ở những người bị liệt dương, người đang sử dụng thuốc ức chế PDE5.

    – Hạ huyết áp tư thế

    Trước khi bắt đầu điều trị, cần kiểm tra cẩn thận bệnh sử các triệu chứng liên quan đến tư thế được thực hiện bởi các bác sĩ. Một bài kiểm tra tư thế nên được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị (huyết áp và nhịp tim, nằm ngửa và đứng). Trong trường hợp có dữ liệu về bệnh sử hoặc bị nghi ngờ có phản ứng tư thế, nên tránh dùng Rilixetin để điều trị.

    Hạ huyết áp tư thế đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Các bác sĩ kê đơn nên tư vấn cho bệnh nhân trước đó nếu người ấy có triệu chứng, chẳng hạn như cảm giác lâng lâng ngay sau khi đứng, thì bệnh nhân nên nằm xuống để đầu mình thấp hơn so với phần còn lại của cơ thể hoặc ngồi xuống với đầu ở giữa hai đầu gối cho đến khi triệu chứng biến mất. Các bác sĩ kê đơn cũng nên thông báo cho bệnh nhân không đứng lên một cách nhanh chóng sau khi nằm hoặc ngồi lâu.

    – Tự tử hoặc có ý nghĩ tự tử

    Thuốc chống trầm cảm, bao gồm cả thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên serotonin, tăng nguy cơ so với giả dược về suy nghĩ tự tử và tự tử trong các nghiên cứu ngắn hạn ở trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm và rối loạn tâm thần khác. Nghiên cứu ngắn hạn không cho thấy sự gia tăng nguy cơ tự tử với thuốc chống trầm cảm so với giả dược ở người lớn hơn 24 tuổi.

    – Ngất xỉu

    Bệnh nhân cần được cảnh báo để tránh tình trạng có thể gây ra chấn thương, bao gồm cả nguy hiểm khi lái xe hoặc điều khiển máy móc, nếu ngất hoặc các triệu chứng báo trước của nó như chóng mặt hoặc đầu lâng lâng xảy ra.

    Các triệu chứng có thể báo trước như buồn nôn, chóng mặt/đầu óc quay cuồng, và toát mồ hôi đã được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng dapoxetine so với giả dược.

    – Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch

    Bệnh nhân có bệnh tim mạch tiềm ẩn đã được loại trừ khỏi giai đoạn 3 thử nghiệm lâm sàng. Nguy cơ biến chứng xấu tim mạch từ ngất xỉu (ngất do tim và ngất do các nguyên nhân khác) được gia tăng ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch về cấu trúc tiềm ẩn (ví dụ tắc nghẽn dòng dẫn lưu, bệnh van tim, hẹp động mạch cảnh và bệnh động mạch vành). Không đủ dữ liệu để xác định xem liệu nguy cơ gia tăng này có kéo dài đến ngất xỉu phế vị-mạch ở những bệnh nhân có bệnh tim mạch tiềm ẩn.

    – Sử dụng với các thuốc kích thích

    Bệnh nhân nên được khuyên không nên sử dụng Rilixetin kết hợp với các chất kích thích. Thuốc kích thích tác động lên serotonin như ketamin, methylenedioxymethamphetamin (MDMA) và diethylamide axit lysergic (LSD) có thể dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng nếu kết hợp với Rilixetin. Những phản ứng này không giới hạn bao gồm loạn nhịp tim, tăng thân nhiệt, và hội chứng serotonin. Sử dụng Rilixetin với thuốc kích thích với tính chất an thần như ma túy và các benzodiazepin có thể làm tăng buồn ngủ và chóng mặt.

    – Chất có cồn

    Bệnh nhân không nên sử dụng Rilixetin kết hợp với chất có cồn.

    Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng tác động lên tâm thần kinh và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất ý thức tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên tránh uống chất có cồn trong khi đang dùng Rilixetin.

    – Các sản phẩm thuốc có đặc tính giãn mạch

    Rilixetin nên được dùng một cách thận trọng ở bệnh nhân dùng các thuốc có đặc tính giãn mạch (như chất đối kháng thụ thể alpha adrenergic và các nitrat) có thể là do giảm khả năng chịu đựng huyết áp tư thế đứng.

    – Các chất ức chế CYP3A4 vừa phải

    Cần thận trọng ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế CYP3A4 vừa phải và liều dùng được hạn chế 30 mg.

    – Các chất ức chế CYP2D6 mạnh

    Cần thận trọng khi tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế CYP2D6 mạnh hoặc nếu tăng liều đến 60 mg ở những bệnh nhân được biết là có enzym CYP2D6 chuyển hóa kém, vì điều này có thể làm tăng mức độ phơi nhiễm, trong đó có thể dẫn đến tỷ lệ cao hơn và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ phụ thuộc liều.

    – Hưng cảm

    Rilixetin không nên sử dụng ở những bệnh nhân có tiền sử hưng cảm nhẹ hoặc rối loạn lưỡng cực và cần được ngưng ở bất kỳ bệnh nhân nào có triệu chứng của những rối loạn này.

    – Co giật

    Do tiềm năng của SSRIs làm giảm ngưỡng co giật, Rilixetin nên ngưng điều trị ở bất kỳ bệnh nhân nào phát triển cơn co giật và tránh ở những bệnh nhân bị động kinh không ổn định. Bệnh nhân bị động kinh được kiểm soát nên được theo dõi cẩn thận.

    – Trẻ em

    Rilixetin không nên được sử dụng ở những người dưới 18 tuổi.

    – Rối loạn trầm cảm và/hoặc tâm thần

    Nam giới có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh trầm cảm tiềm ẩn cần được đánh giá trước khi điều trị với Rilixetin để loại trừ các rối loạn trầm cảm không được chẩn đoán. Điều trị đồng thời Rilixetin với các thuốc chống trầm cảm, bao gồm các thuốc thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc trên serotonin (SSRI) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin–norepinephrine (SNRIs), được chống chỉ định. Ngừng điều trị trầm cảm hoặc lo âu liên tục để bắt đầu với Rilixetin trong điều trị xuất tinh sớm là không nên. Rilixetin không được chỉ định cho các rối loạn tâm thần và không nên được sử dụng ở nam giới với những rối loạn này, chẳng hạn như tâm thần phân liệt, hoặc ở những người bị bệnh trầm cảm kèm theo, khi làm xấu hơn các triệu chứng liên quan với trầm cảm không thể loại trừ. Điều này có thể là kết quả của rối loạn tâm thần tiềm ẩn hoặc có thể là một kết quả của việc điều trị từ các sản phẩm thuốc. Các bác sĩ nên khuyến khích bệnh nhân báo cáo bất kỳ ý nghĩ hay cảm xúc chán nản bất cứ lúc nào và nếu có dấu hiệu/triệu chứng của bệnh trầm cảm phát triển trong thời gian điều trị, nên ngưng Rilixetin.

    – Xuất huyết

    Đã có báo cáo về việc chảy máu bất thường với SSRIs. Cần thận trọng ở bệnh nhân dùng Rilixetin, đặc biệt là trong việc sử dụng đồng thời với các thuốc được biết đến là ảnh hưởng đến chức năng của tiểu cầu (ví dụ, thuốc chống loạn thần không điển hình và các phenothiazin, acid acetylsalicylic, các thuốc chống viêm không steroid [NSAID], thuốc chống kết tập tiểu cầu) hoặc thuốc chống đông máu (ví dụ, warfarin), cũng như ở những bệnh nhân có tiền sử rối loạn chảy máu hoặc đông máu.

    – Suy thận

    Rilixetin được khuyến cáo không nên sử dụng cho bệnh nhân suy thận nặng và cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình.

    – Tác dụng khi ngừng thuốc

    Ngưng đột ngột SSRI được kê đơn kéo dài dùng trong điều trị rối loạn trầm cảm mãn tính đã được báo cáo kết quả với các triệu chứng sau đây: tâm trạng bồn chồn, dễ cáu gắt, lo âu, chóng mặt, rối loạn cảm giác (ví dụ, dị cảm như cảm giác điện giật), lo lắng, hoang mang, đau đầu, thờ ơ, rối loạn cảm xúc, mất ngủ và hưng cảm nhẹ.

    – Rối loạn mắt

    Việc sử dụng các Rilixetin liên quan với các hiệu ứng mắt như giãn đồng tử và đau mắt. Rilixetin nên được sử dụng một cách thận trọng ở những bệnh nhân có áp lực nội nhãn tăng hoặc những người có nguy cơ mắc bệnh tăng nhãn áp góc đóng.

    – Không dung nạp lactose

    Những bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp tình trạng không dung nạp galactose, sự thiếu các lactase Lapp hoặc hấp thu kém glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

    Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

    Rilixetin không được chỉ định để sử dụng cho phụ nữ.

    Nghiên cứu ở động vật không thấy tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến khả năng sinh sản, mang thai và sự phát triển phôi thai/thai nhi.

    Vẫn chưa biết liệu dapoxetine hoặc các chất chuyển hóa của nó được bài tiết qua sữa người mẹ hay không.

    Ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc:

    Rilixetin ít ảnh hưởng hoặc ở mức độ vừa phải lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt, sự rối loạn chú ý, ngất xỉu, mờ mắt và buồn ngủ đã được báo cáo trong các đối tượng dùng dapoxetine trong các thử nghiệm lâm sàng. Vì vậy, bệnh nhân cần được cảnh báo để tránh tình trạng chấn thương có thể gây ra, bao gồm cả nguy hiểm khi lái xe hoặc điều khiển máy móc.

    Kết hợp chất có cồn với dapoxetine có thể làm tăng sự tác động lên nhận thức thần kinh liên quan đến chất có cồn và cũng có thể tăng cường tác dụng phụ lên ý thức như mất tạm thời, do đó làm tăng nguy cơ chấn thương do tai nạn. Vì vậy, bệnh nhân nên được khuyên không nên uống chất có cồn trong khi dùng Rilixetin.

    Thông tin thành phần Dapoxetine

    Dược lực:

    Dapoxetine hoạt động bằng cách ức chế vận chuyển serotonin, làm tăng hoạt động của serotonin ở khe hở sau synap, và kết quả là thúc đẩy sự chậm trễ xuất tinh. Là một thành viên của nhóm ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), dapoxetine ban đầu được tạo ra như một thuốc chống trầm cảm. Tuy nhiên, không giống như các SSRI khác, dapoxetine được hấp thụ và loại bỏ nhanh chóng trong cơ thể.

    Chỉ định :

    Xuất tinh sớm ở nam giới độ tuổi 18-64 có các triệu chứng:
    (a) Xuất tinh dai dẳng và tái phát khi có kích thích tình dục ở mức độ tối thiểu, trước trong hoặc ngay sau khi thâm nhập, trước khi bệnh nhân có chủ định
    (b) Cảm giác lo lắng hoặc khó chịu như là hậu quả của xuất tinh sớm
    (c) Khó kiểm soát hiện tượng xuất tinh.

    Liều lượng – cách dùng:

    Khởi đầu 30 mg, uống trước khi quan hệ 1-3 giờ. Nếu không hiệu quả và tác dụng phụ có thể chấp nhận được: có thể tăng tới liều tối đa 60 mg. Liều tối đa khi sử dụng thường xuyên là 1 lần trong 24 giờ.
    Cách dùng: Có thể dùng lúc đói hoặc no: Nuốt cả viên thuốc với một ly đầy nước, cùng với thức ăn hoặc không.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn với thành phần thuốc. Bệnh lý tim mạch mạn tính như suy tim độ II-IV NYHA, block nhĩ thất cấp II-IV hoặc h/c xoang không được điều trị hoặc bệnh nhân đặt máy tạo nhịp, thiếu máu cơ tim rõ rệt, bệnh van tim mạn tính. Dùng đồng thời IMAO hoặc trong vòng 14 ngày kể từ khi ngừng điều trị IMAO & không dùng IMAO trong vòng 7 ngày sau khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thioridazine hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng sử dụng thioridazine & không dùng thioridazine trong vòng 7 ngày sau khi ngừng thuốc. Dùng đồng thời chất ức chế tái hấp thu serotonin, thuốc chống trầm cảm 3 vòng hay thuốc/thảo dược có tác dụng cường giao cảm hoặc trong vòng 14 ngày sau khi ngừng điều trị các thuốc trên & không dùng những thuốc này trong vòng 7 ngày từ khi ngừng sử dụng thuốc. Dùng đồng thời thuốc ức chế mạnh CYP3A4.

    Tác dụng phụ

    Đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, khó ngủ, mệt mỏi.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Duraject – 60 và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Duraject – 60 bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Zopiboston

    Thuốc Zopiboston

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Zopiboston công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Zopiboston điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Zopiboston ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Zopiboston

    Zopiboston
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 1 vỉ x 10 viên; hộp 2 vỉ x 10 viên; hộp 10 vỉ x 10 viên

    Thành phần:

    Zopiclon 7,5mg
    SĐK:VD-31611-19
    Nhà sản xuất: Công ty Cổ phần Dược phẩm Boston Việt Nam – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty Cổ phần Dược phẩm Boston Việt Nam
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Rối loạn giấc ngủ nguyên nhân bất thường cơ thể &/hoặc tâm thần (mất ngủ, khó ngủ, thường xuyên tỉnh giấc về đêm &/hoặc thức dậy sớm).

    Liều lượng – Cách dùng

    Không nên dùng liên tục kéo dài quá 7-10 ngày. 
    Người lớn: 1 viên/ngày.
    Người già; bệnh nhân sức khỏe yếu, suy gan, suy hô hấp mạn tính: ½ viên/ngày, nếu cần: thận trọng tăng tới 1 viên/ngày.
    Cách dùng
    Có thể dùng lúc đói hoặc no: Nên uống ngay trước khi đi ngủ.

    Chống chỉ định:

    Mẫn cảm với thành phần thuốc. Suy hô hấp nặng (như h/c ngưng thở khi ngủ). Từng bị phản ứng bất thường với rượu &/hoặc thuốc an thần.

    Tương tác thuốc:

    Rượu, thuốc ức chế TKTW. Giảm liều khi dùng đồng thời benzodiazepin, erythromycin, clarithromycin, ketoconazole, itraconazole, ritonavir. Tăng liều khi dùng đồng thời rifampicin, carmabazepin, phenobarbital, phenytoin.

    Tác dụng phụ:

    Đắng miệng. Buồn ngủ, suy nhược, chóng mặt, lú lẫn, mất trí nhớ tạm thời, cảm giác say rượu, sảng khoái, lo âu, bồn chồn, trầm cảm, mất phối hợp, giảm trương lực cơ, nói khó, khô miệng, trắng lưỡi, hơi thở có mùi, khó tiêu, táo bón, chán ăn hoặc ăn nhiều.

    Chú ý đề phòng:

    Bệnh nhân nhược cơ nặng, suy gan/thận/hô hấp nặng, trầm cảm. Nguy cơ thuốc gây lú lẫn ở người già & bệnh nhân có tổn thương não bộ. Nguy cơ trẻ sinh ra mắc triệu chứng rút thuốc ở mẹ dùng thuốc khi mang thai. Phụ nữ cho con bú: Không dùng. Trẻ em

    Thông tin thành phần Zopiclone

    Dược lực:

    Cơ chế hoạt động chính xác của zopiclone chưa được biết chính xác, nhưng hiệu quả của nó được cho là kết quả từ sự tương tác với Các phức hợp thụ thể GABA tại các miền liên kết nằm gần hoặc kết hợp với các thụ thể benzodiazepine.

    Dược động học :

    Ở người khỏe mạnh zopiclone được hấp thu nhanh, với thời gian nồng độ đỉnh (tmax) xấp xỉ 1 giờ và chu kỳ bán hủy giai đoạn cuối (t1 / 2) khoảng 6 giờ.

    Hấp thu và phân bố: Zopiclone được hấp thu nhanh sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong khoảng 1 giờ sau khi uống. Zopiclone liên kết yếu với protein huyết tương (52-59%).

    Chuyển hóa: Sau khi uống, eszopiclone được chuyển hóa rộng rãi bởi quá trình oxy hóa và demethyl hóa. Các chất chuyển hóa là (S) -zopiclone-N-oxit và (S) -N-desmethyl zopiclone; hợp chất thứ hai liên kết với các thụ thể GABA với hiệu lực thấp hơn đáng kể so với Zopiclone

    Thải trừ: Sau khi uống, Zopiclone được loại bỏ với một t1 / 2 trung bình khoảng 6 giờ. 75% liều uống đường uống zopiclone được bài tiết trong nước tiểu, chủ yếu là chất chuyển hóa.

    Chỉ định :

    Điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ, bao gồm khó ngủ, tỉnh giấc về đêm và thức sớm, chứng mất ngủ thoáng qua, tạm thời hoặc mạn tính, và mất ngủ thứ phát do rối loạn tâm thần, trong những trường hợp mà mất ngủ làm cho bệnh nhân suy nhược hoặc kiệt sức trầm trọng.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều dùng:

    Người lớn: Liều thường dùng: 7,5 mg.

    Người cao tuổi: Nên bắt đầu điều trị với liều 3,75 mg.

    Bệnh nhân bị suy thận hay suy gan nhẹ đến trung bình: Nên bắt đầu điều trị với zopiclon ở liều 3,75 mg.

    Cách dùng:

    – Nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong mỗi đợt điều trị.

    – Nên uống thuốc trước khi đi ngủ, ở tư thế đứng.

    – Thời gian trị liệu:

    Mất ngủ tạm thời: 2 – 5 ngày.

    Mất ngủ ngắn hạn: 2 – 3 tuần.

    Một đợt trị liệu không nên kéo dài hơn 4 tuần tính cả thời gian giảm liều.

    Chống chỉ định :

    – Quá mẫn với zopiclon hay với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

    – Chứng nhược cơ nặng, suy hô hấp, hội chứng ngưng thở trầm trọng khi ngủ, suy gan trầm trọng.

    – Trẻ em.

    Tác dụng phụ

    Thường gặp nhất:

    Miệng có vị hơi đắng hay vị kim loại.

    Ít gặp:

    Rối loạn tiêu hóa nhẹ, bao gồm buồn nôn và nôn, chóng mặt, đau đầu, ngủ gật và khô miệng.

    Hiếm gặp:

    Rối loạn tâm thần và hành vi, như dễ cáu kỉnh, hung hăng, lú lẫn, chán nản, chứng quên về sau, mộng du, ảo giác và gặp ác mộng, thường gặp hơn ở người cao tuổi. Dị ứng hay những triệu chứng tương tự (như mề đay hay phát ban), đầu lâng lâng và mất khả năng phối hợp, phù nề và/ hoặc phản ứng phản vệ, tăng transaminase và/hoặc alkalin phosphatase trong huyết thanh nhẹ đến trung bình.

    Triệu chứng cai thuốc thay đổi gồm chứng mất ngủ trở lại, lo lắng, run, đổ mồ hôi, kích động, lú lẫn, đau đầu, đánh trống ngực, tim đập nhanh, mê sảng, ác mộng, ảo giác, cơn hoảng loạn, đau cơ/ chuột rút, rối loạn tiêu hóa và dễ cáu kỉnh. Cơn động kinh có thể xảy ra nhưng rất hiếm.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Zopiboston và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Zopiboston bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Vacohistin 8

    Thuốc Vacohistin 8

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Vacohistin 8 công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Vacohistin 8 điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Vacohistin 8 ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Vacohistin 8

    Vacohistin 8
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 3 vỉ, 5 vỉ, 10 vỉ, 100 vỉ x 10 viên; Hộp 5 vỉ, 10 vỉ, 50 vỉ x 20 viên; Hộp 4 vỉ, 10 vỉ, 40 vỉ x 25 viên; Chai 100 viên, 200 viên, 500 viên, 1.000 viên

    Thành phần:

    Betahistine dihydrochloride 8mg
    SĐK:VD-32091-19
    Nhà sản xuất: Công ty cổ phần dược Vacopharm – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty cổ phần dược Vacopharm
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Chóng mặt do nguyên nhân tiền đình.

    Hội chứng Meniere: chóng mặt, ù tai, nôn, nhức đầu, mất thính lực.
    Các đặc tính dược lực học
    Thuốc trị chóng mặt.
    Cơ chế tác động của betahistin về mặt tác dụng điều trị thì chưa được nắm rõ. Tuy nhiên, in vitro, betahistin tạo dễ dàng cho sự dẫn truyền histamin do tác động đồng vận một phần trên các thụ thể H1, và tác dụng ức chế các thụ thể H3.
    Betahistin làm giãn cơ vòng tiền mao mạch vì vậy có tác dụng gia tăng tuần hoàn của tai trong. Thuốc kiểm soát tính thấm của mao mạch tai trong do đó làm giảm tích tụ nội dịch bạch huyết tai trong. Đồng thời nó cũng cải thiện tuần hoàn não, gia tăng lưu lượng máu qua động mạch cảnh trong và động mạch đốt sống. Vì vậy, trên lâm sàng betahistin có hiệu quả trong điều trị chóng mặt và choáng váng.
    Các đặc tính dược động học
    Sau khi uống, betahistin được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Betahistin được đào thải theo nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa là acid 2-pyridylacetic.
    – Thời gian bán hủy đào thải khoảng 3, 5 giờ.
    – Thuốc được đào thải qua nước tiểu gần như hoàn toàn sau 24 giờ.

    Liều lượng – Cách dùng

    1-2 viên 8mg x 3 lần/ngày, ½-1 viên 16mg x 3 lần/ngày hoặc 1 viên 24mg x 2 lần/ngày.
    Cách dùng: Nên dùng cùng với thức ăn.

    Ðiều trị 2 – 3 tháng.

    Chống chỉ định:

    Loét dạ dày tá tràng. U tủy thượng thận.

    Quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

    Tương tác thuốc:

    Thuốc kháng histamin. Làm tăng tác dụng: MAOIs, thuốc chống trầm cảm, thuốc trị Parkinson.

    Tác dụng phụ:

    Nôn, chứng khó tiêu hóa, đau đầu. Dị ứng. Đau dạ dày nhẹ (tác dụng này mất đi khi uống thuốc trong bữa ăn hoặc giảm liều).

    Chú ý đề phòng:

    Thận trọng khi bệnh nhân hen suyễn. Không nên dùng khi có thai.

    Bệnh nhân hen phế quản, tiền sử loét dạ dày (đường tiêu hóa).

    Không nên dùng khi mang thai & trong suốt thời kỳ cho con bú.

    Trẻ

    Thông tin thành phần Betahistine

    Dược lực:

    Betahistine là thuốc trị chóng mặt. Betahistine làm giãn cơ vòng tiền mao mạch vì vậy có tác dụng gia tăng tuần hoàn của tai trong. Đồng thời nó cũng cải thiện tuần hoàn não, gia tăng lưu lượng máu qua động mạch cảnh trong và động mạch đốt sống.

    Dược động học :

    Sau khi uống, Betahistine được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Betahistine được đào thải theo nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa là acide 2-pyridyl acétique.

    Thời gian bán hủy đào thải khoảng 3 giờ rưỡi.

    Thuốc được đào thải gần như hoàn toàn sau 24 giờ.

    AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG

    Dùng đường uống với liều có thể tới 250mg/kg/ngày (chuột cống, chó) mà không thấy có tác dụng ngoại ý.

    Tiêm tĩnh mạch, phải đến liều 120mg/kg/ngày (chuột cống, chó) mới bắt đầu thấy xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc : buồn nôn, sau đó là các rối loạn có nguồn gốc thần kinh (giống các rối loạn gây bởi thuốc histamine).

    Tác dụng :

    Cơ chế tác động của Betahistine về mặt tác dụng điều trị thì chưa được nắm rõ. Tuy nhiên, in vitro, Betahistine tạo dễ dàng cho sự dẫn truyền histamine do tác động đồng vận một phần trên các thụ thể H1, và tác dụng ức chế các thụ thể H3 (mặt khác, Betahistine làm giảm hoạt tính điện của các tế bào thần kinh đa sinape ở trung tâm tiền đình sau khi tiêm tĩnh mạch ở động vật).

    Chỉ định :

    Ðiều trị hội chứng Ménière. Hội chứng này thường được biểu hiện bằng chứng chóng mặt, ù tai, nôn ói, nhức đầu và đôi khi kèm theo mất thính lực.

    Ðiều trị chứng chóng mặt nguyên nhân tiền đình.

    Liều lượng – cách dùng:

    1 đến 3 viên/ngày, chia làm nhiều lần, tốt nhất nên uống thuốc trong bữa ăn. Ðiều trị từ 2 đến 3 tháng.

    Chống chỉ định :

    – Cơn loét dạ dày-tá tràng.

    – U tủy thượng thận.

    Tác dụng phụ

    Thuốc được dung nạp tốt, do đó có thể được sử dụng lâu dài. Tuy nhiên, một số trường hợp rất hiếm có thể bị đau dạ dày, có thể tránh được bằng cách uống thuốc trong bữa ăn.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Vacohistin 8 và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Vacohistin 8 bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Queitoz-100

    Thuốc Queitoz-100

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Queitoz-100 công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Queitoz-100 điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Queitoz-100 ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Queitoz-100

    Queitoz-100
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén
    Đóng gói:Hộp 4 vỉ x 7 viên

    Thành phần:

    Quetiapin (dưới dạng Quetiapin fumarat) 100mg
    SĐK:VD-31635-19
    Nhà sản xuất: Công ty CP Dược phẩm Đạt Vi Phú (DAVIPHARM) – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty CP Dược phẩm Đạt Vi Phú (DAVIPHARM)
    Nhà phân phối:

    Tác dụng :

    Thuốc quetiapine được sử dụng để điều trị một số tình trạng về tinh thần/tâm trạng (như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, các cơn hưng phấn bất ngờ hoặc trầm cảm có liên quan với rối loạn lưỡng cực). Thuốc cũng được sử dụng để điều trị trầm cảm, chủ yếu trong sự kết hợp với các thuốc chống trầm cảm.

    Chỉ định :

    Chữa trị các chứng rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực

    Chữa bệnh tâm thần phân liệt

    Liều lượng – cách dùng:

    * Dạng bào chế phóng thích tức thời

    – Người lớn điều trị tâm thần phân liệt:

    Liều khởi đầu 300 mg/ ngày 1, 600 mg/ ngày 2. Liều khuyến cáo hàng ngày là 600 mg. Nên điều chỉnh liều trong khoảng 400 – 800 mg/ ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng của nguời bệnh.

    – Người lớn điều trị các cơn hưng cảm liên quan

    đến rối loạn lưỡng cực:

    Liều khởi đầu 300 mg/ ngày thứ nhất, 600 mg/ ngày thứ hai, và sau 2 ngày có thể sử dụng liều lên tới 800 mg. Nên điều chỉnh liều trong khoảng 400 – 800 mg/ ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng của nguời bệnh.

    Người lớn điều trị các cơn trầm cảm liên quan đến rối loạn lưỡng cực:

    Uống thuốc Seroquel Xr một lần mỗi ngày trước khi đi ngủ. Liều trong 4 ngày điều trị đầu tiên là: 50 mg/ ngày thứ nhất, 100 mg/ ngày thứ hai, 200 mg/ ngày thứ ba, 300 mg/ ngày thứ tư. Liều khuyến cáo mỗi ngày là 300 mg.

    Người lớn ngăn ngừa tái phát rối loạn lưỡng cực:

    Trong điều trị dự phòng tái phát rối loạn lưỡng cực, nếu bạn đã đáp ứng với thuốc Seroquel Xr trong điều trị cấp tính rối loạn lưỡng cực thì nên tiếp tục sử dụng cùng liều đang dùng trước khi đi ngủ. Có thể điều chỉnh liều trong khoảng 300 – 800 mg/ ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng của nguời bệnh.

    Người lớn điều trị hỗ trợ các cơn trầm cảm lớn trong rối loạn trầm cảm:

    Liều khởi đầu 50 mg/ ngày thứ nhất và thứ hai, 150 mg/ ngày thứ ba và thứ tư. Liều 150 mg/ ngày và 300 mg/ ngày được ghi nhận có hiệu quả chống trầm cảm ngắn hạn khi kết hợp với các thuốc điều trị khác và ở liều 50 mg/ ngày trong các thử nghiệm trị liệu ngắn hạn. Bác sĩ lâm sàng nên đảm bảo sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả, bắt đầu với liều 50 mg/ngày. Nhu cầu tăng liều từ 150 mg/ngày lên 300 mg/ngày nên dựa trên kết quả đánh giá của từng bệnh nhân.

    Người lớn điều trị rối loạn lo âu toàn thể

    Liều khởi đầu 50 mg/ ngày thứ nhất và ngày thứ hai, tăng lên 150 mg/ ngày thứ ba và thứ tư. Có thể điều chỉnh liều trong khoảng 50 – 150 mg/ ngày tùy theo đáp ứng lâm sàng của người bệnh. Hiệu quả của Seroquel XR đã được chứng minh trong khoảng liều từ 50 mg đến 300 mg/ngày, tuy nhiên không ghi nhận nhóm sử dụng liều 300 mg có lợi ích hơn nhóm sử dụng liều 150 mg. Không khuyến cáo sử dụng liều trên 150 mg/ngày.

    Trong điều trị duy trì rối loạn lo âu toàn thể, liều có hiệu quả trong điều trị khởi đầu nên được tiếp tục. Có thể điều chỉnh liều trong khoảng liều khuyến cáo tùy theo đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân.

    Dạng bào chế phóng thích kéo dài:

    Liều khởi đầu: dùng 300 mg uống mỗi ngày một lần không có thức ăn hoặc với một bữa ăn nhẹ.

    Liều duy trì: dùng 400-800 mg uống một lần mỗi ngày tùy theo thích ứng và chịu đựng của cơ thể. Liều tối đa: chưa có nghiên cứu về liều trên 800 mg hàng ngày.

    Liều lượng của viên nén phóng thích kéo dài có thể tăng lên đến 300 mg mỗi ngày trong khoảng thời gian ngắn (1 ngày).

    * Trẻ em dùng thuốc với liều như thế nào?

    Cần tham khảo ý kiến của bác sỹ hoặc dược sỹ khi muốn dùng thuốc cho trẻ em.

    Thận trọng lúc dùng :

    Trước khi sử dụng thuốc, bạn nên thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ:

    – Những loại thuốc mà bạn bị dị ứng hoặc bạn bị di ứng với thành phần của thuốc.

    – Những thuốc, thực phẩm chức năng mà bạn đang hoặc dự định sẽ dùng. Những thuốc, sản phẩm thực phẩm chức năng đó có thể gây tương tác làm tăng nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ có hại cho bạn.

    – Bạn có thai, dự định mang thai hoặc đang cho con bú: Vẫn chưa có đầy đủ nghiên cứu về độ an toàn của thuốc khi sử dụng cho nhóm đối tượng này. Do đó, trước khi sử dụng cần cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ.

    – Bạn đang mắc bệnh gan, thận hoặc đã mắc bệnh gan, thận.

    Tương tác thuốc :

    Aripiprazole

    – Clonazepam

    – Cymbalta (duloxetine)

    – Gabapentin

    – Klonopin (clonazepam)

    – Lamictal (lamotrigine)

    – Lamotrigine

    – Levothyroxine

    – Lisinopril

    – Lithium

    – Lyrica (pregabalin)

    – Metformin

    – Omeprazole

    – Synthroid (levothyroxine)

    – Tramadol

    – Trazodone

    – Vitamin D3 (cholecalciferol)

    – Wellbutrin XL (bupropion)

    – Xanax (alprazolam)

    – Zoloft (sertraline)

    Tác dụng phụ

    Buồn ngủ, chóng mặt, nhức đầu, khô miệng, suy nhược nhẹ, táo bón, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp thế đứng, khó tiêu.

    Bạn nên thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ khi gặp phải các triệu chứng bất thường.

    Thông tin thành phần Quetiapin

    Dược lực:

    Quetiapine và norquetiapine là chất chuyển hóa của nó trong huyết tương người. Quetiapine và norquetiapine có ái lực với thụ thể serotonin (5HT2) ở não và với thụ thể dopamine D1và D2. Tính đối kháng trên những thụ thể này và tính chọn lọc với thụ thể serotonin (5HT2) ở não cao hơn so với thụ thể dopamine D2 được xem là góp phần vào đặc tính chống loạn thần trên lâm sàng và ít nguy cơ tác dụng phụ trên hệ ngoại tháp của Seroquel Xr so với các thuốc chống loạn thần điển hình.

    Ngoài ra, norquetiapine có ái lực cao với thụ thể serotonin 5HT1. Quetiapine và norquetiapine cũng có ái lực cao với thụ thể histaminergic và adrenergic alpha1, có ái lực thấp hơn với thụ thể adrenergic alpha2. Quetiapine có ái lực không đáng kể với các thụ thể cholinergic muscarinic hay benzodiazepine. Quetiapine có hoạt tính trong các thử nghiệm chống loạn thần, chẳng hạn như thử nghiệm né tránh có điều kiện (conditioned avoidance).

    Quetiapine cũng phong bế tác động của các chất chủ vận dopamine trên các thử nghiệm hành vi hay sinh lý điện, và làm tăng nồng độ các chất chuyển hóa của dopamine, một chỉ số hóa thần kinh cho biết mức độ phong bế thụ thể D2. Chưa xác định được chất chuyển hóa norquetiapine góp phần vào tính chất dược lý của Quetiapine ở người như thế nào.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Queitoz-100 và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Queitoz-100 bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Quanoopyl 800

    Thuốc Quanoopyl 800

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Quanoopyl 800 công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Quanoopyl 800 điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Quanoopyl 800 ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Quanoopyl 800

    Quanoopyl 800
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 10 vỉ x10 viên

    Thành phần:

    Piracetam 800mg
    SĐK:VD-31841-19
    Nhà sản xuất: Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Bình – VIỆT NAM
    Nhà đăng ký: Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Bình
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Bệnh do tổn thương não, các triệu chứng của hậu phẫu não & chấn thương não: loạn tâm thần, đột quỵ, liệt nửa người, thiếu máu cục bộ. 

    – Bệnh do rối loạn ngoại biên & trung khu não bộ: chóng mặt, nhức đầu, mê sảng nặng. 
    – Bệnh do các rối loạn não: hôn mê, các triệu chứng của tình trạng lão suy, rối loạn ý thức.

    – Các tai biến về mạch não, nhiễm độc carbon monoxide & di chứng. 
    – Suy giảm chức năng nhận thức & suy giảm thần kinh cảm giác mãn tính ở người già. 
    – Chứng khó học ở trẻ, nghiện rượu mãn tính, rung giật cơ.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Liều thường dùng 30 – 160 mg/kg/ngày, chia đều 2 lần hoặc 3 – 4 lần /ngày. 
    – Điều trị dài ngày các hội chứng tâm thần thực thể ở người cao tuổi: 1,2 – 2,4 g/ngày. Liều có thể cao tới 4,8 g/ngày/những tuần đầu.
    – Điều trị nghiện rượu: 12 g/ngày/thời gian cai rượu đầu tiên. Điều trị duy trì: Uống 2,4 g/ngày.
    – Suy giảm nhận thức sau chấn thương não: Liều ban đầu: 9 – 12 g/ngày, liều duy trì: 2,4 g/ngày, uống ít nhất trong 3 tuần.
    – Thiếu máu hồng cầu liềm: 160 mg/kg/ngày, chia đều làm 4 lần.
    – Điều trị giật rung cơ: 7,2 g/ngày, chia làm 2 – 3 lần. Tuỳ theo đáp ứng cứ 3 – 4 ngày/lần, tăng thêm 4,8 g/ngày cho tới liều tối đa là 20 g/ngày.

    Thông thường:

    Người lớn: liều khởi đầu 800 mg, mỗi ngày ba lần. 

    Trường hợp cải thiện 400 mg, mỗi ngày ba lần.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần thuốc, suy thận nặng và phụ nữ có thai, cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Thuốc kích thích thần kinh trung ương, thuốc hướng thần kinh, hocmon giáp trạng.

    Tác dụng phụ:

    Có thể xảy ra kích thích nhẹ, nhưng có thể kiểm soát được bằng cách giảm liều.

    Chú ý đề phòng:

    Người lớn tuổi. Ðộng kinh.

    Thông tin thành phần Piracetam

    Dược lực:

    Piracetam là loại thuốc hưng trí(cải thiện chuyển hoá của tế bào thần kinh).

    Dược động học :

    – Hấp thu: dùng theo đường uống được hấp thu nhanh chóng và hầu như hoàn toàn ở ống tiêu hoá. Sinh khả dụng gần 100%. Hấp thu thuốc không thay đổi khi điều trị dài ngày.

    – Phân bố: thể tích phân bố khoảng 0,6l/kg. Piracetam ngấm vào tất cả các mô và có thể qua hàng rào máu não, nhau thai và cả các màng dùng trong thẩm tích thận. Piracetam không gắn vào các protein huyết tương.

    – Thải trừ: được đào thải qua thận dưới dạng nguyên vẹn, hệ số thanh thải piracetam của thận ở người bình thường là 86ml/phút. 30 giờ sau khi uống , hơn 95% thuốc được thải theo nước tiểu. Ở người suy thận thì thời gian bán thải tăng lên.

    Tác dụng :

    Piracetam (dẫn xuất vòng của acid gama aminobutyric, GABA), được coi là một chất có tác dụng hưng phấn(cải thiện chuyển hoá của tế bào thần kinh) mặc dù người ta còn chưa biết nhiều về tác dụng đặc hiệu cũng như cơ chế tác dụng của nó.

    Piracetam tác động lên một số chất dẫn truyền thần kinh như acetylcholin, noradrenalin, dopamin…Thuốc có thể làm thay đổi một sự dẫn truyền thần kinh và góp phần cải thiện môi trường chuyển hoá để các tế bào thần kinh hoạt động tốt.

    Trên thực nghiệm, piracetam có tác dụng bảo vệ chống lại những rối loạn chuyển hoá do thiếu máu cục bộ nhờ làm tăng đề kháng của não đối với tình trạng thiếu oxy.

    Piracetam làm tăng sự huy động và sử dụng glucose mà không lệ thuộc vào sự cung cấp oxy,tạo thuận lợi cho con đường pentose và duy trì tổng hợp năng lượng ở não.

    Thuốc còn có tác dụng làm tăng giải phóng dopamin, có tác dụng tốt lên sự hình thành trí nhớ.

    Piracetam không có tác dụng gây ngủ, an thần, hồi sức ,giảm đau.

    Piracetam làm giảm khả năng kết tụ tiểu cầu và trong trường hợp hồng cầu bị cứng bất thường thì thuốc có thể làm cho hồng cầu phục hồi khả năng biến dạng và khả năng đi qua các mao mạch. Thuốc có tác dụng chống giật rung cơ.

    Chỉ định :

    Điều trị các triệu chứng chóng mặt. 

    Các tổn thương sau chấn thương sọ não và phẫu thuật não: rối loạn tâm thần, tụ máu, liệt nửa người và thiếu máu cục bộ. 

    Các rối loạn thần kinh trung ương: chóng mặt, nhức đầu, lo âu, sảng rượu, rối loạn ý thức.

    Suy giảm trí nhớ, thiếu tập trung, sa sút trí tuệ ở người già. 
    Thiếu máu hồng cầu hình liềm. 
    Các trường hợp thiếu máu cục bộ cấp. 
    Điều trị nghiện rượu. 
    Điều trị thiếu máu hồng cầu liềm. 
    Dùng bổ trợ trong điều trị giật rung cơ có nguồn gốc vỏ não.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều thường dùng là 30 – 160 mg/kg/ngày, tùy theo chỉ định. 
    Thuốc được dùng tiêm hoặc uống, chia đều ngày 2 lần hoặc 3 – 4 lần. Nên dùng thuốc uống nếu người bệnh uống được. 
    Cũng có thể dùng thuốc tiêm để uống nếu như phải ngừng dùng dạng tiêm. Trường hợp nặng, có thể tăng liều lên tới 12 g/ngày và dùng theo đường truyền tĩnh mạch.
    Ðiều trị dài ngày các hội chứng tâm thần thực thể ở người cao tuổi: 
    1,2 – 2,4 g một ngày, tùy theo từng trường hợp. Liều có thể cao tới 4,8 g/ngày trong những tuần đầu.
    Ðiều trị nghiện rượu:

    12 g một ngày trong thời gian cai rượu đầu tiên. Ðiều trị duy trì: Uống 2,4 g/ngày.

    Suy giảm nhận thức sau chấn thương não (có kèm chóng mặt hoặc không):
     Liều ban đầu là 9 – 12 g/ngày; liều duy trì là 2,4 g thuốc, uống ít nhất trong ba tuần.
    Thiếu máu hồng cầu liềm:
    160 mg/kg/ngày, chia đều làm 4 lần.
    Ðiều trị giật rung cơ:
    piracetam được dùng với liều 7,2 g/ngày, chia làm 2 – 3 lần. Tùy theo đáp ứng, cứ 3 – 4 ngày một lần, tăng thêm 4,8 g mỗi ngày cho tới liều tối đa là 20 g/ngày. Sau khi đã đạt liều tối ưu của piracetam, nên tìm cách giảm liều của các thuốc dùng kèm.

    Chống chỉ định :

    Suy thận nặng.

    Phụ nữ có thai và cho con bú.

    Người mắc bệnh Huntington.

    Người bệnh suy gan.

    Tác dụng phụ

    Bồn chồn, bứt rứt, kích thích, lo âu & rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, choáng váng, rối loạn tiêu hóa.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Quanoopyl 800 và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Quanoopyl 800 bình luận cuối bài viết.

online casinos deutschland
legale online casinos deutschland
wettanbieter deutschland
online casinos mit eu lizenz
top crypto casinos
casino en ligne fiable
online casinos deutschland
beste online casino schweiz
non GamStop betting
new casinos UK
best casino sites UK
best UK casino sites
non UK bookmakers
fast payout casino
non GamStop casinos UK
casinos not on GamStop
sites not on GamStop
non GamStop casino
online casinos deutschland
top online casinos deutschland
sportwetten ohne oasis
wetten ohne oasis
neue online casinos deutschland
online casino ohne deutsche lizenz
online casino ohne oasis
online casino ausland
neue online casinos
neue online casinos
online casino ohne oasis
online casino bonus ohne einzahlung
online casino ohne oasis
online casino ohne limit
online casino ohne limit
online casinos auszahlung ohne verifizierung
neue online casinos deutschland
online casinos ohne oasis
online casino ohne oasis
online casino ohne oasis
neue online casinos deutschland
neue deutsche online casinos
online casino ohne oasis
online casino ohne oasis
online casinos ohne oasis
online casino ohne oasis
online casinos ohne oasis
online casino buitenland
online casino buitenland
online casino ohne oasis
neue online casinos deutschland
neue online casinos deutschland
besten online casinos deutschland
beste online casinos in deutschland
beste online casinos deutschland
online casinos in deutschland
non GamStop casinos
non GamStop casino UK
non GamStop casino
casinos not on GamStop
non GamStop casinos
gambling sites not on GamStop
non GamStop casinos
bookmakers stranieri non aams
siti casino online
casino online nuovi
siti scommesse non aams
bookmaker non aams
bookmaker non aams
meilleur casino en ligne
meilleur casino en ligne
casino en ligne france
casino en ligne
meilleur casino en ligne
nouveau casino en ligne fiable
site de paris sportif
site de paris hors arjel
neue wettanbieter
wettanbieter deutschland
free spins no deposit non GamStop
online casinos
online casinos
online casino
online casino buitenland
wettanbieter ohne oasis
sportwetten ohne oasis
wettanbieter ohne oasis
online casino schnelle auszahlung
online casino mit sofortauszahlung
online casino mit schneller auszahlung
online casino sofort auszahlung
online casinos Canada
online casinos
online casinos Canada
online casinos
best online casinos Canada
casino ohne oasis
casino ohne oasis
online casino ohne oasis
online casino ohne 1 euro limit