Thẻ: Công ty Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP

  • Thuốc Procoralan 7,5mg

    Thuốc Procoralan 7,5mg

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Procoralan 7,5mg công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Procoralan 7,5mg điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Procoralan 7,5mg ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Procoralan 7,5mg

    Procoralan 7,5mg
    Nhóm thuốc: Thuốc tim mạch
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 4 vỉ x 14 viên

    Thành phần:

    Ivabradine
    SĐK:VN-4521-07
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier Industrie
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị triệu chứng đau thắt ngực mạn tính ổn định ở bệnh nhân mạch vành có nhịp xoang bình thường.Thuốc được chỉ định:
    – trên những bệnh nhân không dung nạp hoặc chống chỉ định với chẹn beta.
    – hoặc phối hợp với chẹn beta trên những bệnh nhân chưa được kiểm soát đầy đủ với chẹn beta và có nhịp tim > 60 nhịp/phút.

    Liều lượng – Cách dùng

    Liều khuyến cáo khởi đầu thông thường là mỗi lần 5 mg ivabradine, mỗi ngày 2 lần.
    Sau 3-4 tuần điều trị, có thể tăng liều, mỗi lần dùng 7,5 mg, ngày hai lần, tùy thuộc vào đáp ứng điều trị.
    Nếu trong quá trình điều trị mà tình trạng nhịp tim giảm đến dưới 50 lần mỗi phút lúc nghỉ ngơi xảy ra dai dẳng hoặc bệnh nhân có gặp những triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều đến mức có thể là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần (tức một nửa của viên 5 mg, mỗi ngày 2 lần). Phải ngừng điều trị nếu nhịp tim vẫn dưới 50 lần/phút hoặc các triệu chứng của nhịp chậm vẫn tồn tại (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
    Phải dùng đường uống các viên nén, mỗi ngày 2 lần, tức một lần vào buổi sáng, một lần vào buổi tối trong các bữa ăn (xem mục Dược động học).
    Người cao tuổi
    Ivabradine chỉ được nghiên cứu ở một số lượng hạn chế bệnh nhân ≥ 75 tuổi, nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp hơn cho các bệnh nhân thuộc lứa tuổi cao này (mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần, tức mỗi lần một nửa viên loại 5 mg, ngày 2 lần) trước khi tăng liều, nếu cần thiết.
    Suy thận
    Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận và có độ thanh lọc creatinin > 15 ml/phút (xem mục Dược động học).
    Chưa có dữ liệu với bệnh nhân mà độ thanh lọc creatinin dưới 15 ml/phút. Vì vậy dùng ivabradine thận trọng với các đối tượng này.

    Suy gan
    Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan nhẹ. Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân suy gan mức trung bình. Chống chỉ định sử dụng thuốc này cho bệnh nhân suy gan nặng, vì chưa có nghiên cứu cho các đối tượng này và dự kiến làm tăng mạnh độ phơi nhiễm ở hệ thống (xem các mục Chống chỉ định và Dược động học).
    Trẻ em và vị thành niên
    Không khuyến cáo dùng thuốc cho trẻ em và vị thành niên vì chưa có nghiên cứu về hiệu lực và độ an toàn của ivabradine cho những đối tượng này.

    Quá liều
    Quá liều có thể dẫn đến nhịp tim chậm nghiêm trọng và kéo dài. Nhịp tim chậm nghiêm trọng nên được điều trị triệu chứng tại một cơ sở chuyên khoa. Trong trường hợp nhịp tim chậm mà dung nạp huyết động học kém, có thể điều trị triệu chứng bằng thuốc kích thích beta đường tĩnh mạch như isoprenaline. Đặt máy tạo nhịp tạm thời nếu cần.
    Nếu quên không uống thuốc: nếu quên một liều thuốc không uống thì nên dùng liều tiếp theo như bình thường. Không được uống liều gấp đôi để bù lại liều đã quên. Lịch in trên vỉ thuốc giúp bệnh nhân nhớ lại lần cuối dùng viên nén thuốc.
    Nếu dừng uống thuốc: Vì việc điều trị đau thắt ngực thường kéo dài suốt đời, khuyên bệnh nhân hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dừng thuốc.

    Chống chỉ định:

    – Quá mẫn cảm với ivabradine hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào (xem mục Thành phần).

    – Nhịp tim lúc nghỉ dưới 60 lần/phút trước khi điều trị.

    – Sốc tim.

    – Nhồi máu cơ tim cấp.

    – Tụt huyết áp nghiêm trọng (- Suy gan nặng.

    – Hội chứng xoang.

    – Blốc xoang nhĩ.

    – Suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA do còn thiếu dữ liệu.

    – Bệnh nhân phụ thuộc máy tạo nhịp.

    – Đau thắt ngực không ổn định.

    – Blốc nhĩ-thất độ 3.

    – Phối hợp với các chất ức chế mạnh cytochrom P450-3A4, như các thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolid (clarithromycin, erythromycin uống, fosamycin), chất ức chế HIV- protease (melfinavir, ritonavir) và mefazodone (xem các mục Tương tác thuốc và Dược động học).

    – Mang thai và thời kỳ cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Rối loạn về thị giác:

    Rất hay gặp: (>1/10)

    Hiện tượng chói sáng (phosphene): xảy ra ở 14,5% số bệnh nhân, được mô tả như tăng tạm thời cảm nhận ánh sáng ở vùng hạn chế của thị trường. Thường gây ra do thay đổi đột ngột cường độ ánh sáng. Hiện tượng phosphene thường bắt đầu trong 2 tháng điều trị đầu tiên, sau đó có thể bị lại. Phosphene thường được báo cáo có cường độ từ nhẹ đến trung bình. Tất cả các hiện tượng phosphene đều sẽ khỏi trong thời gian dùng thuốc hoặc sau đó.

    Thường gặp: (> 1/100; Nhìn mờ.

    Rối loạn về tim mạch

    Thường gặp: (>1/100; – Nhịp tim chậm: 3,3% số bệnh nhân có nhịp tim chậm, đặc biệt trong 2-3 tháng điều trị đầu tiên. Có 0,5% số bệnh nhân có nhịp tim chậm nghiêm trọng ≤ 40 nhịp/phút.

    – Blốc nhĩ thất độ 1.

    – Ngoại tâm thu thất.

    Ít gặp: (>1/1000; – Đánh trống ngực, ngoại tâm thu trên thất.

    – Những hiện tượng sau đây được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng và có tần số tương đương với nhóm so sánh và/ hoặc có khả năng liên quan đến bệnh gốc: loạn nhịp xoang, đau thắt ngực không ổn định, đau thắt ngực trầm trọng thêm, rung nhĩ, thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim và nhịp nhanh thất.

    Rối loạn tiêu hóa

    Ít gặp: (>1/1000, Buồn nôn, táo bón, tiêu chảy.

    Xét nghiệm

    Ít gặp: (>1/1000, – Tăng acid uric máu, tăng bạch cầu ưa eosin, tăng creatinin-máu.

    Tác dụng phụ:

    Tương tác dược lực học

    Không nên phối hợp với ivabradine:

    Các chất làm kéo dài đoạn QT:

    – Thuốc tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ quinidine, sotalol, disopyramide, bepridil, ibutilide, amiodazone).

    – Thuốc không phải tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ: pimozide, ziprasidone, sertindole, mefloquine, halofantrine, pentanidine, cisapride, erythromycin tĩnh mạch).

    – Tránh phối hợp các thuốc tim mạch và không tim mạch gây kéo dài đoạn QT cùng với ivabradine vì tình trạng kéo dài đoạn QT có thể trầm trọng hơn do giảm nhịp tim. Nếu cần phối hợp, phải theo dõi chặt chẽ trạng thái tim (xem mục Thận trọng lúc dùng).

    Tương tác dược động học

    Cytochrom P450 3A4 (CYP3A4):

    Ivapradine chỉ được chuyển hóa qua CYP3A4 và là chất ức chế rất yếu của cytochrom này. Ivabradine cho thấy không có ảnh hưởng đến chuyển hóa và tới các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất khác của CYP3A4 (các chất ức chế nhẹ, trung bình và mạnh). Các chất ức chế và gây cảm ứng CYP3A4 có khả năng tương tác với ivabradine và có ảnh hưởng tới chuyển hóa và dược động học của ivabradine ở mức độ có ý nghĩa lâm sàng.

    Nghiên cứu tương tác thuốc đã xác định là các chất ức chế CYP3A4 làm tăng nồng độ của ivabradine trong huyết tương, trong khi các chất gây cảm ứng lại làm giảm nồng độ ivabradine. Tăng nồng độ trong huyết tương của ivabradine có thể liên quan tới nguy cơ chậm nhịp tim quá mức (xem mục Thận trọng lúc dùng).

    Chống chỉ định phối hợp:

    Chống chỉ định phối hợp ivabradine với những chất ức chế mạnh CYP3A4 như thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolide (clarithromycin, erythromycin uống, josamycin, telithromycin), chất ức chế HIV protease (nefinavir, ritonavir) và mefazodone (xem mục Chống chỉ định). Các chất ức chế CYP3A4 mạnh như ketoconazole (200 mg, ngày 1 lần) hoặc josamycin (1g, ngày 2 lần) làm tăng nồng độ ivabradine trong huyết tương lên 7 đến 8 lần.

    Không nên phối hợp với ivabradine:Các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

    Nghiên cứu tương tác đặc hiệu trên người tình nguyện và trên bệnh nhân cho thấy nếu dùng ivabradine cùng với diltiazem hoặc verapamil (là các thuốc làm giảm nhịp tim) sẽ làm tăng nồng độ của ivabradine (tăng diện tích dưới đường cong lên 2-3 lần) và làm chậm thêm nhịp tim là 5 nhịp mỗi phút. Không khuyến cáo phối hợp ivabradine với những thuốc trên (xem mục Chú ý đề phòng).

    Thận trọng khi phối hợp thuốc

    – Các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

    Phối hợp ivabradine với những chất ức chế vừa phải CYP3A4 (ví dụ: fluconazole) có thể tiến hành thận trọng với liều khởi đầu là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần. Chỉ nên phối hợp khi nhịp tim lúc nghỉ là > 60 nhịp một phút, sau đó phải theo dõi sát nhịp tim.

    – Nước ép bưởi: phối hợp uống với nước ép bưởi làm tăng nồng độ ivabradine lên gấp 2 lần. Vì vậy trong thời kỳ uống ivabradine, cần hạn chế ăn bưởi.

    – Các chất gây cảm ứng CYP3A4:

    Những chất gây cảm ứng CYP3A4 (ví dụ: rifampicin, các barbiturate, phenytoin, Hypericum perforatum (St. John’s Wort)) có thể làm giảm nồng độ và hiệu lực của ivabradine. Nếu phối hợp với những chất gây cảm ứng CYP3A4, cần điều chỉnh liều ivabradine.

    Phối hợp ivabradine mỗi lần 10 mg, mỗi ngày 2 lần cùng St. John’s Wort cho thấy làm giảm một nửa diện tích dưới đường cong của ivabradine; do đó cần hạn chế dùng St. John’s Wort trong thời kỳ uống ivabradine.

    Các phối hợp khác

    Nghiên cứu về tương tác đặc hiệu cho thấy không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng của các thuốc sau đây tới dược động học và dược lực học của ivabradine: chất ức chế bơm proton (omeprazole, lansoprazole), sildenafil, chất ức chế HMG-CoA- reductase (simvastatin), chất ức chế kênh calci dihydropyridine (amlodipine, lacidipine), digoxin và warfarin. Thêm vào đó, ivabradine không ảnh hưởng tới dược động học của simvastatin, amlodipine, lacidipine, không ảnh hưởng tới dược động học và dược lực học của digoxin, warfarin và không ảnh hưởng tới dược lực học của aspirin.

    Các thử nghiệm lâm sàng chủ chốt ở pha III với các chế phẩm sau đây được dùng không hạn chế, do đó đã phối hợp thường quy với ivabradine và chưa thấy có vấn đề về độ an toàn: thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II, thuốc lợi niệu, các nitrat tác dụng ngắn và dài, chất ức chế HMG-CoA-reductase, các fibrat, thuốc ức chế bơm proton, thuốc uống chống tiểu đường, aspirin và các thuốc khác chống tiểu cầu.

    Chú ý đề phòng:

    Loạn nhịp tim

    Ivabradine không có hiệu lực điều trị hoặc ngăn ngừa loạn nhịp tim và cũng có thể mất hiệu lực khi có rối loạn nhịp tim nhanh (ví dụ nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất). Vì vậy không khuyến cáo dùng Ivabradine cho bệnh nhân rung nhĩ hoặc có những rối loạn nhịp tim khác mà có tương tác với chức năng của nút xoang.

    Cần theo dõi thường xuyên về lâm sàng ở bệnh nhân dùng ivabradine xem có xảy ra rung nhĩ (kéo dài hoặc kịch phát), kể cả đo điện tâm đồ khi có chỉ định của lâm sàng (ví dụ trong trường hợp đau thắt ngực trầm trọng, đánh trống ngực, mạch bất thường).

    Bệnh nhân blốc nhĩ-thất độ 2

    Không nên dùng ivabradine.

    Sử dụng cho bệnh nhân có nhịp tim chậm

    Không được khởi đầu điều trị bằng ivabradine cho bệnh nhân có nhịp tim lúc nghỉ trước điều trị dưới 60 lần một phút (xem mục Chống chỉ định).

    Nếu trong quá trình điều trị mà nhịp tim lúc nghỉ luôn dưới 50 lần một phút hoặc bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến chậm nhịp tim, như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều. Ngưng điều trị bằng ivabradine nếu nhịp tim dưới 50 lần/phút hoặc nếu các triệu chứng chậm nhịp tim tồn tại dai dẳng (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    Phối hợp các thuốc chống đau thắt ngực

    Không khuyến cáo phối hợp ivabradine với các thuốc chẹn calci có làm giảm tần số tim như verapamil hoặc diltiazem (xem mục Tương tác thuốc). Chưa có dữ liệu về độ an toàn khi phối hợp ivabradine với các nitrat và với các chất chẹn calci nhóm dihydropyridine như amlopidine. Chưa xác định được ivabradine có tăng hiệu lực khi phối hợp với thuốc chẹn calci nhóm dihydropyridine (xem mục Dược lực HỌC).

    Suy tim mạn tính

    Suy tim phải được kiểm soát thỏa đáng trước khi cân nhắc dùng ivabradine. Chống chỉ định sử dụng ivabradine ở bệnh nhân suy tim độ III-IV theo xếp loại của NYHA, do còn thiếu dữ liệu về hiệu lực lâm sàng và độ an toàn (xem mục Chống chỉ định). Cần thận trọng với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái không triệu chứng cũng như bệnh nhân suy tim độ II theo NYHA do số lượng bệnh nhân nghiên cứu còn ít.

    Đột quỵ

    Không khuyến cáo dùng ivabradine ngay sau khi đột quỵ, vì chưa đủ dữ liệu cho những trường hợp này.

    Chức năng thị giác

    Ivabradine có ảnh hưởng tới chức năng của võng mạc (xem mục Dược lực HỌC). Cho tới nay chưa có chứng cứ về tác hại của ivabradine trên võng mạc, hiện chưa rõ những ảnh hưởng của ivabradine điều trị kéo dài trên một năm đối với chức năng võng mạc. Cần cân nhắc sử dụng thuốc khi gặp bất kỳ bệnh lý nào liên quan tới chức năng thị giác. Cũng thận trọng với bệnh nhân viêm võng mạc sắc tố.

    Tá dược

    Vì viên nén có chứa lactose, không nên dùng cho các bệnh nhân có vấn đề về di truyền (hiếm gặp) như không dung nạp galactose, hoặc thiếu hụt men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose.

    Bệnh nhân hạ huyết áp

    Còn thiếu dữ liệu ở bệnh nhân hạ huyết áp ở mức độ nhẹ và trung bình và do đó cần dùng thận trọng ivabradine cho những đối tượng này.

    Chống chỉ định ivabradine cho bệnh nhân tụt huyết áp nghiêm trọng (huyết áp Rung nhĩ-loạn nhịp tim

    Chưa có chứng cớ về nguy cơ chậm nhịp tim (quá mức) khi quay trở lại nhịp xoang nếu bắt đầu khử rung tim cho bệnh nhân dùng ivabradine. Tuy nhiên khi chưa đủ dữ liệu, nên cân nhắc tiến hành khử rung 24 giờ sau khi dùng liều ivabradine cuối cùng.

    Sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT

    Cần tránh sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT (xem mục Tương tác thuốc). Nếu thấy cần phối hợp như vậy, cần theo dõi tim rất cẩn thận.

    Sử dụng ở bệnh nhân bị suy gan mức độ vừa

    Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân bị suy gan mức độ vừa (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    Sử dụng với bệnh nhân suy thận nghiêm trọng.

    Cần thận trọng khi sử dụng ivabradine cho bệnh nhân suy thận nghiêm trọng (độ thanh lọc creatinin Dùng cùng thức ăn và đồ uống: hạn chế ăn bưởi khi điều trị với Procoralan.

    Ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc

    Nghiên cứu đặc biệt về ảnh hưởng có thể có của ivabradine trên khả năng lái xe đã được tiến hành trên người tình nguyện khỏe mạnh mà không có chứng cớ về suy giảm khả năng lái xe. Kết quả cho thấy ivabradine không ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.

    Tuy nhiên ivabradine có thể gây hiện tượng chói sáng tạm thời. Cần phải tính đến hiện tượng chói sáng như vậy khi lái xe hoặc sử dụng máy móc trong các trường hợp có thể có thay đổi đột ngột về cường độ ánh sáng, đặc biệt khi lái xe ban đêm.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    Chưa có dữ liệu đầy đủ về sử dụng ivabradine cho người mang thai. Nghiên cứu trên sự sinh sản ở súc vật cho thấy thuốc này độc với phôi và gây quái thai. Chưa rõ nguy cơ của thuốc này trên người. Vì vậy chống chỉ định dùng trong thai kỳ.

    Nghiên cứu trên súc vật cho thấy ivabradine bài tiết qua sữa. Do đó chống chỉ định mẹ dùng ivabradine trong thời kỳ cho con bú.

    Thông tin thành phần Ivabradine

    Dược lực:

    Ivabradine là chất làm giảm chuyên biệt nhịp tim, do tác động ức chế chọn lọc và đặc hiệu dòng If của trung tâm tạo nhịp tim, dòng ion này kiểm soát khử cực tâm trương tự phát ở nút xoang và điều hòa nhịp tim. Tác dụng trên tim của thuốc là đặc hiệu với nút xoang mà không ảnh hưởng tới thời gian dẫn truyền trong nhĩ, trong nhĩ-thất, sự tái cực thất hoặc co cơ tim.

    Ivabradine cũng có thể tương tác với dòng điện Ih ở võng mạc, rất giống với dòng If ở tim. Dòng Ih này tham gia vào độ phân giải tạm thời của hệ thị giác bằng cách làm giảm đáp ứng của võng mạc với xung ánh sáng chói.

    Trong các trường hợp bị kích thích (ví dụ thay đổi nhanh chóng độ sáng), việc ivabradine ức chế một phần dòng Ih khiến cho bệnh nhân có thể gặp hiện tượng chói sáng. Hiện tượng chói sáng (phosphene) được mô tả là tăng chói sáng tạm thời ở một vùng nhất định của thị trường.

    Tính chất dược lực học chủ yếu của ivabradine ở người là giảm nhịp tim đặc hiệu phụ thuộc vào liều lượng. Phân tích giảm nhịp tim với liều tới 20 mg mỗi lần và uống 2 lần trong ngày đã chỉ rõ có khuynh hướng đạt tới tác dụng bình nguyên cùng với giảm nguy cơ nhịp tim chậm nghiêm trọng dưới 40 nhịp mỗi phút.

    Với liều khuyến cáo thông thường, nhịp tim giảm khoảng 10 lần một phút lúc nghỉ và trong lúc luyện tập. Điều này làm giảm gánh nặng khi tim hoạt động và giảm nhu cầu oxy cho cơ tim.

    Ivabradine không ảnh hưởng tới dẫn truyền trong tim, tới co bóp tim (không có tác dụng ức chế sự co sợi cơ tim) hoặc sự tái cực của tâm thất.

    Trong các nghiên cứu điện sinh lý lâm sàng, ivabradine không có tác dụng trên thời gian dẫn truyền nhĩ- thất hoặc trong thất, không làm biến đổi đoạn QT trên điện tâm đồ.

    Với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái (phân suất tống máu của thất trái ở trong khoảng 30% và 45%), ivabradine không có tác hại nào đối với phân suất tống máu.

    Hiệu lực chống đau thắt ngực và chống thiếu máu cục bộ của Procoralan được nghiên cứu trong 5 thử nghiệm mù kép chọn ngẫu nhiên (3 so với giả dược, 1 so vơi atenolol, 1 so với amlodipin). Những thử nghiệm này bao gồm tổng cộng 4111 bệnh nhân có đau thắt ngực mạn tính ổn định, trong số này có 2617 người uống ivabradine.

    Ivabradine với liều mỗi lần 5 mg, mỗi ngày 2 lần, có hiệu lực trên các thông số làm test gắng sức trong vòng 3-4 tuần điều trị. Hiệu lực được xác định với liều mỗi lần 7,5 mg, ngày 2 lần. Đặc biệt, lợi ích tăng thêm với liều trên 5 mg, mỗi ngày hai lần, được xác định qua nghiên cứu quy chiếu có kiểm soát, so sánh với atenolol: tổng thời gian gắng sức vào cuối liều tăng khoảng 1 phút sau một tháng điều trị với liều mỗi lần 5 mg, ngày 2 lần và được cải thiện thêm khoảng 25 giây sau khi điều trị thêm 3 tháng với liều tăng lên mỗi lần 7,5 mg, ngày 2 lần. Trong nghiên cứu này, các lợi ích chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ của ivabradine được xác định trên bệnh nhân 65 tuổi. Hiệu lực của liều 5 và 7,5 mg mỗi ngày 2 lần là nhất quán qua các nghiên cứu về các thông số test gắng sức (tổng thời gian gắng sức, thời gian xuất hiện cơn đau thắt ngực, thời gian làm giảm được 1 mm đoạn ST) và kết hợp với giảm khoảng 70% tần số các cơn đau thắt ngực. Chế độ uống ivabradine 2 lần mỗi ngày đã cho hiệu lực không thay đổi trong 24 giờ.

    Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, so sánh với giả dược trên 889 bệnh nhân cho thấy Ivabradine khi phối hợp với Atenolol 50mg/ngày cho thấy mang lại hiệu quả cộng thêm trên tất cả các chỉ số của test gắng sức ngay cả ở thời điểm hiệu lực của thuốc là thấp nhất (12 giờ sau khi uống).

    Trong một nghiên cứu trên 725 bệnh nhân, chọn ngẫu nhiên và so sánh với giả dược, thấy ivabradine không có hiệu cộng thêm khi phối hợp với amlodipine vào cuối liều (12 giờ sau khi uống thuốc), nhưng có hiệu lực ở mức định liều (3-4 giờ sau khi uống).

    Hiệu lực của ivabradine được duy trì trong suốt thời gian điều trị 3 hoặc 4 tháng trong các thử nghiệm về hiệu lực. Không có chứng cứ về dung nạp dược lý học (mất hiệu lực) xảy ra trong quá trình điều trị hoặc hiện tượng dội ngược sau khi ngưng thuốc đột ngột. Tác dụng chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ của ivabradine đi kèm với tác dụng giảm nhịp tim phụ thuộc liều lượng và giảm rõ rệt về tích số tần số huyết áp (tần số tim x huyết áp tâm thu) khi nghỉ ngơi và khi gắng sức. Tác dụng của thuốc này trên huyết áp và sự đề kháng mạch ngoại biên hầu như không thấy và không có ý nghĩa lâm sàng.

    Sự giảm tần số tim kéo dài đã được chứng minh với bệnh nhân dùng ivabradine trong ít nhất 1 năm (n=713). Không nhận thấy thuốc này có ảnh hưởng tới chuyển hóa glucose và lipid.

    Hiệu lực của ivabradine chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ cũng được xác định trên bệnh nhân tiểu đường (n=457) với các thông số an toàn tương tự khi so sánh với dân số chung.

    Dược động học :

    Trong điều kiện sinh lý, ivabradine được phóng thích nhanh khỏi viên nén và tan mạnh trong nước (>10 mg/ml), ivabradine là đồng phân đối hình S không có chuyển dạng sinh học qua chứng minh in vivo. Chất chuyển hóa N-khử methyl của ivabradine được xác định là chất có hoạt tính chủ yếu trên người.

    Hấp thu và sinh khả dụng

    Ivabradine hấp thu nhanh và hầu như hoàn toàn sau khi uống với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khoảng 1 giờ nếu uống thuốc khi đói. Sinh khả dụng tuyệt đối của viên nén bao phim là khoảng 40%, do vòng chuyển hóa đầu tiên tại ruột và gan.

    Thức ăn làm chậm hấp thu khoảng 1 giờ, làm tăng phơi nhiễm thuốc trong huyết tương lên 20-30%. Khuyến cáo uống thuốc trong bữa ăn nhằm làm giảm thay đổi trong cá thể về độ phơi nhiễm thuốc.

    Phân bố

    Ivabradine gắn khoảng 70% vào protein huyết tương và thể tích phân bố trong trạng thái ổn định gần 100 lít ở bệnh nhân. Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khi uống lâu dài liều khuyến cáo (mỗi lần 5 ml, ngày 2 lần) là 22 nanogam/ml (CV=29%). Nồng độ trung bình trong huyết tương là 10 nanogam/ml ở trạng thái ổn định (CV=38%).

    Chuyển dạng sinh học

    Ivabradine được chuyển hóa mạnh qua gan và ruột, bằng cách oxy hóa qua duy nhất cytochrome P450 3A4 (CYP3A4).

    Chất chuyển hóa chính có hoạt tính là dẫn xuất N-khử Methyl với độ phơi nhiễm khoảng 40% của hoạt chất Ivabradine ban đầu. Ivabradine có ái lực yếu với CYP3A4, không ức chế hoặc gây cảm ứng rõ rệt CYP3A4, vì vậy không chắc có làm thay đổi chuyển hóa hoặc các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất của CYP3A4. Ngược lại các chất ức chế mạnh CYP3A4 và các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4 lại có thể tác động rõ rệt tới các nồng độ của ivabradine trong huyết tương.

    Đào thải

    Ivabradine đào thải với thời gian bán thải chính là 2 giờ (70-75% diện tích dưới đường cong) trong huyết tương, còn thời gian bán thải có hiệu lực là 11 giờ. Độ thanh lọc tổng quát là khoảng 400ml/phút và độ thanh lọc qua thận khoảng 70 ml/phút. Đào thải của các chất chuyển hóa qua phân và nước tiểu với lượng tương đương nhau. Khoảng 4% liều uống được thải nguyên vẹn qua nước tiểu.

    Tuyến tính/không tuyến tính

    Động học của ivabradine là tuyến tính với liều uống 0,5-24 mg.

    Những đối tượng đặc biệt

    – Với người cao tuổi: không có khác biệt về dược động học (diện tích dưới đường cong và nồng độ đỉnh) khi so sánh giữa bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi) hoặc rất cao tuổi (≥ 75 tuổi) với dân số chung.

    – Suy thận: ảnh hưởng của suy thận (độ thanh lọc creatinin = 15-60 ml/phút) tới động học của ivabradine là tối thiểu, phù hợp với việc độ thanh lọc ở cầu thận tham gia ít (khoảng 20%) tới sự đào thải toàn thể của cả ivabradine và chất chuyển hóa chính S18992 (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    – Suy gan: Với bệnh nhân suy gan nhẹ (độ Child – Pugh tới 7), diện tích dưới đường cong của ivabradine và của chất chuyển hóa chính có hoạt tính cao hơn khoảng 20% so với người có chức năng gan bình thường.

    Không có dữ liệu cho bệnh nhân suy gan nặng (xem mục Liều lượng và cách dùng và Chống chỉ định).

    Dữ liệu không đủ mạnh để kết luận cho bệnh nhân suy gan vừa.

    Liên quan giữa dược động học / dược lực học (PK/PD)

    Phân tích về sự liên quan dược động học / dược lực học cho thấy tần số tim giảm gần như tuyến tính khi tăng các nồng độ ivabradine và S18982 trong huyết tương cho tới liều mỗi lần 15-20 mg, mỗi ngày 2 lần. Với liều cao hơn thì sự giảm tần số tim sẽ không còn tỷ lệ thuận với nồng độ ivabradine trong huyết tương và có khuynh hướng đạt bình nguyên, độ phơi nhiễm cao của ivabradine có thể gặp khi phối hợp ivabradine với những chất ức chế mạnh CYP3A4 có thể kéo theo giảm tần số tim quá mức, trong khi nguy cơ đó sẽ giảm đi khi phối hợp với chất ức chế vừa phải CYP3A4.

    An toàn tiền lâm sàng

    Nghiên cứu về độc tính trên sự sinh sản cho thấy ivabradine không ảnh hưởng tới sinh sản chuột cống đực và cái. Khi chuột cống có thai được điều trị trong thời kỳ tạo cơ quan của thai với độ phơi nhiễm gần với liều điều trị, thấy gia tăng tỷ lệ thai có dị tật tim và một số ít thai bị thiếu ngón chân.

    Cho chó uống ivabradine (liều 2, 7 hoặc 24mg/kg/ngày) trong một năm, thấy thay đổi có hồi phục về chức năng giác mạc, nhưng không kèm theo bất kỳ hủy hoại gì ở cấu trúc mắt. Dữ liệu này phù hợp với tác dụng dược lý của ivabradine có liên quan tới tương tác với dòng điện If, hoạt hóa sự tăng phân cực trong võng mạc, mà có sự tương đồng rộng rãi với dòng điện Ih ở trung tâm điều hòa nhịp tim.

    Các nghiên cứu khác dài hạn với liều liên tiếp về độc tính gây ung thư cho thấy không thấy có thay đổi rõ ràng về lâm sàng.

    Chỉ định :

    Điều trị triệu chứng đau thắt ngực mạn tính ổn định ở bệnh nhân mạch vành có nhịp xoang bình thường.

    Ivabradine được chỉ định:

    – trên những bệnh nhân không dung nạp hoặc chống chỉ định với chẹn beta.

    – hoặc phối hợp với chẹn beta trên những bệnh nhân chưa được kiểm soát đầy đủ với chẹn beta và có nhịp tim > 60 nhịp/phút.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều khuyến cáo khởi đầu thông thường là mỗi lần 5 mg ivabradine, mỗi ngày 2 lần.
    Sau 3-4 tuần điều trị, có thể tăng liều, mỗi lần dùng 7,5 mg, ngày hai lần, tùy thuộc vào đáp ứng điều trị.
    Nếu trong quá trình điều trị mà tình trạng nhịp tim giảm đến dưới 50 lần mỗi phút lúc nghỉ ngơi xảy ra dai dẳng hoặc bệnh nhân có gặp những triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều đến mức có thể là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần (tức một nửa của viên 5 mg, mỗi ngày 2 lần). Phải ngừng điều trị nếu nhịp tim vẫn dưới 50 lần/phút hoặc các triệu chứng của nhịp chậm vẫn tồn tại (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
    Phải dùng đường uống các viên nén, mỗi ngày 2 lần, tức một lần vào buổi sáng, một lần vào buổi tối trong các bữa ăn (xem mục Dược động học).
    Người cao tuổi
    Ivabradine chỉ được nghiên cứu ở một số lượng hạn chế bệnh nhân ≥ 75 tuổi, nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp hơn cho các bệnh nhân thuộc lứa tuổi cao này (mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần, tức mỗi lần một nửa viên loại 5 mg, ngày 2 lần) trước khi tăng liều, nếu cần thiết.
    Suy thận
    Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận và có độ thanh lọc creatinin > 15 ml/phút (xem mục Dược động học).
    Chưa có dữ liệu với bệnh nhân mà độ thanh lọc creatinin dưới 15 ml/phút. Vì vậy dùng ivabradine thận trọng với các đối tượng này.

    Suy gan
    Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan nhẹ. Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân suy gan mức trung bình. Chống chỉ định sử dụng thuốc này cho bệnh nhân suy gan nặng, vì chưa có nghiên cứu cho các đối tượng này và dự kiến làm tăng mạnh độ phơi nhiễm ở hệ thống (xem các mục Chống chỉ định và Dược động học).
    Trẻ em và vị thành niên
    Không khuyến cáo dùng thuốc cho trẻ em và vị thành niên vì chưa có nghiên cứu về hiệu lực và độ an toàn của ivabradine cho những đối tượng này.

    Chống chỉ định :

    – Quá mẫn cảm với ivabradine hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào (xem mục Thành phần).

    – Nhịp tim lúc nghỉ dưới 60 lần/phút trước khi điều trị.

    – Sốc tim.

    – Nhồi máu cơ tim cấp.

    – Tụt huyết áp nghiêm trọng (- Suy gan nặng.

    – Hội chứng xoang.

    – Blốc xoang nhĩ.

    – Suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA do còn thiếu dữ liệu.

    – Bệnh nhân phụ thuộc máy tạo nhịp.

    – Đau thắt ngực không ổn định.

    – Blốc nhĩ-thất độ 3.

    – Phối hợp với các chất ức chế mạnh cytochrom P450-3A4, như các thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolid (clarithromycin, erythromycin uống, fosamycin), chất ức chế HIV- protease (melfinavir, ritonavir) và mefazodone (xem các mục Tương tác thuốc và Dược động học).

    – Mang thai và thời kỳ cho con bú.

    Tác dụng phụ

    Rối loạn về thị giác:

    Rất hay gặp: (>1/10)

    Hiện tượng chói sáng (phosphene): xảy ra ở 14,5% số bệnh nhân, được mô tả như tăng tạm thời cảm nhận ánh sáng ở vùng hạn chế của thị trường. Thường gây ra do thay đổi đột ngột cường độ ánh sáng. Hiện tượng phosphene thường bắt đầu trong 2 tháng điều trị đầu tiên, sau đó có thể bị lại. Phosphene thường được báo cáo có cường độ từ nhẹ đến trung bình. Tất cả các hiện tượng phosphene đều sẽ khỏi trong thời gian dùng thuốc hoặc sau đó.

    Thường gặp: (> 1/100; Nhìn mờ.

    Rối loạn về tim mạch

    Thường gặp: (>1/100; – Nhịp tim chậm: 3,3% số bệnh nhân có nhịp tim chậm, đặc biệt trong 2-3 tháng điều trị đầu tiên. Có 0,5% số bệnh nhân có nhịp tim chậm nghiêm trọng ≤ 40 nhịp/phút.

    – Blốc nhĩ thất độ 1.

    – Ngoại tâm thu thất.

    Ít gặp: (>1/1000; – Đánh trống ngực, ngoại tâm thu trên thất.

    – Những hiện tượng sau đây được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng và có tần số tương đương với nhóm so sánh và/ hoặc có khả năng liên quan đến bệnh gốc: loạn nhịp xoang, đau thắt ngực không ổn định, đau thắt ngực trầm trọng thêm, rung nhĩ, thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim và nhịp nhanh thất.

    Rối loạn tiêu hóa

    Ít gặp: (>1/1000, Buồn nôn, táo bón, tiêu chảy.

    Xét nghiệm

    Ít gặp: (>1/1000, – Tăng acid uric máu, tăng bạch cầu ưa eosin, tăng creatinin-máu.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Procoralan 7,5mg và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Procoralan 7,5mg bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Procoralan 5mg

    Thuốc Procoralan 5mg

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Procoralan 5mg công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Procoralan 5mg điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Procoralan 5mg ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Procoralan 5mg

    Procoralan 5mg
    Nhóm thuốc: Thuốc tim mạch
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 4 vỉ x 14 viên

    Thành phần:

    Ivabradine
    SĐK:VN-4520-07
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier Industrie
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị triệu chứng đau thắt ngực mạn tính ổn định ở bệnh nhân mạch vành có nhịp xoang bình thường.Thuốc được chỉ định:
    – trên những bệnh nhân không dung nạp hoặc chống chỉ định với chẹn beta.
    – hoặc phối hợp với chẹn beta trên những bệnh nhân chưa được kiểm soát đầy đủ với chẹn beta và có nhịp tim > 60 nhịp/phút.

    Liều lượng – Cách dùng

    Liều khuyến cáo khởi đầu thông thường là mỗi lần 5 mg ivabradine, mỗi ngày 2 lần.
    Sau 3-4 tuần điều trị, có thể tăng liều, mỗi lần dùng 7,5 mg, ngày hai lần, tùy thuộc vào đáp ứng điều trị.
    Nếu trong quá trình điều trị mà tình trạng nhịp tim giảm đến dưới 50 lần mỗi phút lúc nghỉ ngơi xảy ra dai dẳng hoặc bệnh nhân có gặp những triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều đến mức có thể là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần (tức một nửa của viên 5 mg, mỗi ngày 2 lần). Phải ngừng điều trị nếu nhịp tim vẫn dưới 50 lần/phút hoặc các triệu chứng của nhịp chậm vẫn tồn tại (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
    Phải dùng đường uống các viên nén, mỗi ngày 2 lần, tức một lần vào buổi sáng, một lần vào buổi tối trong các bữa ăn (xem mục Dược động học).
    Người cao tuổi
    Ivabradine chỉ được nghiên cứu ở một số lượng hạn chế bệnh nhân ≥ 75 tuổi, nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp hơn cho các bệnh nhân thuộc lứa tuổi cao này (mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần, tức mỗi lần một nửa viên loại 5 mg, ngày 2 lần) trước khi tăng liều, nếu cần thiết.
    Suy thận
    Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận và có độ thanh lọc creatinin > 15 ml/phút (xem mục Dược động học).
    Chưa có dữ liệu với bệnh nhân mà độ thanh lọc creatinin dưới 15 ml/phút. Vì vậy dùng ivabradine thận trọng với các đối tượng này.

    Suy gan
    Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan nhẹ. Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân suy gan mức trung bình. Chống chỉ định sử dụng thuốc này cho bệnh nhân suy gan nặng, vì chưa có nghiên cứu cho các đối tượng này và dự kiến làm tăng mạnh độ phơi nhiễm ở hệ thống (xem các mục Chống chỉ định và Dược động học).
    Trẻ em và vị thành niên
    Không khuyến cáo dùng thuốc cho trẻ em và vị thành niên vì chưa có nghiên cứu về hiệu lực và độ an toàn của ivabradine cho những đối tượng này.

    Quá liều
    Quá liều có thể dẫn đến nhịp tim chậm nghiêm trọng và kéo dài. Nhịp tim chậm nghiêm trọng nên được điều trị triệu chứng tại một cơ sở chuyên khoa. Trong trường hợp nhịp tim chậm mà dung nạp huyết động học kém, có thể điều trị triệu chứng bằng thuốc kích thích beta đường tĩnh mạch như isoprenaline. Đặt máy tạo nhịp tạm thời nếu cần.
    Nếu quên không uống thuốc: nếu quên một liều thuốc không uống thì nên dùng liều tiếp theo như bình thường. Không được uống liều gấp đôi để bù lại liều đã quên. Lịch in trên vỉ thuốc giúp bệnh nhân nhớ lại lần cuối dùng viên nén thuốc.
    Nếu dừng uống thuốc: Vì việc điều trị đau thắt ngực thường kéo dài suốt đời, khuyên bệnh nhân hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dừng thuốc.

    Chống chỉ định:

    – Quá mẫn cảm với ivabradine hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào (xem mục Thành phần).

    – Nhịp tim lúc nghỉ dưới 60 lần/phút trước khi điều trị.

    – Sốc tim.

    – Nhồi máu cơ tim cấp.

    – Tụt huyết áp nghiêm trọng (- Suy gan nặng.

    – Hội chứng xoang.

    – Blốc xoang nhĩ.

    – Suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA do còn thiếu dữ liệu.

    – Bệnh nhân phụ thuộc máy tạo nhịp.

    – Đau thắt ngực không ổn định.

    – Blốc nhĩ-thất độ 3.

    – Phối hợp với các chất ức chế mạnh cytochrom P450-3A4, như các thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolid (clarithromycin, erythromycin uống, fosamycin), chất ức chế HIV- protease (melfinavir, ritonavir) và mefazodone (xem các mục Tương tác thuốc và Dược động học).

    – Mang thai và thời kỳ cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Rối loạn về thị giác:

    Rất hay gặp: (>1/10)

    Hiện tượng chói sáng (phosphene): xảy ra ở 14,5% số bệnh nhân, được mô tả như tăng tạm thời cảm nhận ánh sáng ở vùng hạn chế của thị trường. Thường gây ra do thay đổi đột ngột cường độ ánh sáng. Hiện tượng phosphene thường bắt đầu trong 2 tháng điều trị đầu tiên, sau đó có thể bị lại. Phosphene thường được báo cáo có cường độ từ nhẹ đến trung bình. Tất cả các hiện tượng phosphene đều sẽ khỏi trong thời gian dùng thuốc hoặc sau đó.

    Thường gặp: (> 1/100; Nhìn mờ.

    Rối loạn về tim mạch

    Thường gặp: (>1/100; – Nhịp tim chậm: 3,3% số bệnh nhân có nhịp tim chậm, đặc biệt trong 2-3 tháng điều trị đầu tiên. Có 0,5% số bệnh nhân có nhịp tim chậm nghiêm trọng ≤ 40 nhịp/phút.

    – Blốc nhĩ thất độ 1.

    – Ngoại tâm thu thất.

    Ít gặp: (>1/1000; – Đánh trống ngực, ngoại tâm thu trên thất.

    – Những hiện tượng sau đây được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng và có tần số tương đương với nhóm so sánh và/ hoặc có khả năng liên quan đến bệnh gốc: loạn nhịp xoang, đau thắt ngực không ổn định, đau thắt ngực trầm trọng thêm, rung nhĩ, thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim và nhịp nhanh thất.

    Rối loạn tiêu hóa

    Ít gặp: (>1/1000, Buồn nôn, táo bón, tiêu chảy.

    Xét nghiệm

    Ít gặp: (>1/1000, – Tăng acid uric máu, tăng bạch cầu ưa eosin, tăng creatinin-máu.

    Tác dụng phụ:

    Tương tác dược lực học

    Không nên phối hợp với ivabradine:

    Các chất làm kéo dài đoạn QT:

    – Thuốc tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ quinidine, sotalol, disopyramide, bepridil, ibutilide, amiodazone).

    – Thuốc không phải tim mạch làm kéo dài đoạn QT (ví dụ: pimozide, ziprasidone, sertindole, mefloquine, halofantrine, pentanidine, cisapride, erythromycin tĩnh mạch).

    – Tránh phối hợp các thuốc tim mạch và không tim mạch gây kéo dài đoạn QT cùng với ivabradine vì tình trạng kéo dài đoạn QT có thể trầm trọng hơn do giảm nhịp tim. Nếu cần phối hợp, phải theo dõi chặt chẽ trạng thái tim (xem mục Thận trọng lúc dùng).

    Tương tác dược động học

    Cytochrom P450 3A4 (CYP3A4):

    Ivapradine chỉ được chuyển hóa qua CYP3A4 và là chất ức chế rất yếu của cytochrom này. Ivabradine cho thấy không có ảnh hưởng đến chuyển hóa và tới các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất khác của CYP3A4 (các chất ức chế nhẹ, trung bình và mạnh). Các chất ức chế và gây cảm ứng CYP3A4 có khả năng tương tác với ivabradine và có ảnh hưởng tới chuyển hóa và dược động học của ivabradine ở mức độ có ý nghĩa lâm sàng.

    Nghiên cứu tương tác thuốc đã xác định là các chất ức chế CYP3A4 làm tăng nồng độ của ivabradine trong huyết tương, trong khi các chất gây cảm ứng lại làm giảm nồng độ ivabradine. Tăng nồng độ trong huyết tương của ivabradine có thể liên quan tới nguy cơ chậm nhịp tim quá mức (xem mục Thận trọng lúc dùng).

    Chống chỉ định phối hợp:

    Chống chỉ định phối hợp ivabradine với những chất ức chế mạnh CYP3A4 như thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolide (clarithromycin, erythromycin uống, josamycin, telithromycin), chất ức chế HIV protease (nefinavir, ritonavir) và mefazodone (xem mục Chống chỉ định). Các chất ức chế CYP3A4 mạnh như ketoconazole (200 mg, ngày 1 lần) hoặc josamycin (1g, ngày 2 lần) làm tăng nồng độ ivabradine trong huyết tương lên 7 đến 8 lần.

    Không nên phối hợp với ivabradine:Các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

    Nghiên cứu tương tác đặc hiệu trên người tình nguyện và trên bệnh nhân cho thấy nếu dùng ivabradine cùng với diltiazem hoặc verapamil (là các thuốc làm giảm nhịp tim) sẽ làm tăng nồng độ của ivabradine (tăng diện tích dưới đường cong lên 2-3 lần) và làm chậm thêm nhịp tim là 5 nhịp mỗi phút. Không khuyến cáo phối hợp ivabradine với những thuốc trên (xem mục Chú ý đề phòng).

    Thận trọng khi phối hợp thuốc

    – Các chất ức chế vừa phải CYP3A4:

    Phối hợp ivabradine với những chất ức chế vừa phải CYP3A4 (ví dụ: fluconazole) có thể tiến hành thận trọng với liều khởi đầu là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần. Chỉ nên phối hợp khi nhịp tim lúc nghỉ là > 60 nhịp một phút, sau đó phải theo dõi sát nhịp tim.

    – Nước ép bưởi: phối hợp uống với nước ép bưởi làm tăng nồng độ ivabradine lên gấp 2 lần. Vì vậy trong thời kỳ uống ivabradine, cần hạn chế ăn bưởi.

    – Các chất gây cảm ứng CYP3A4:

    Những chất gây cảm ứng CYP3A4 (ví dụ: rifampicin, các barbiturate, phenytoin, Hypericum perforatum (St. John’s Wort)) có thể làm giảm nồng độ và hiệu lực của ivabradine. Nếu phối hợp với những chất gây cảm ứng CYP3A4, cần điều chỉnh liều ivabradine.

    Phối hợp ivabradine mỗi lần 10 mg, mỗi ngày 2 lần cùng St. John’s Wort cho thấy làm giảm một nửa diện tích dưới đường cong của ivabradine; do đó cần hạn chế dùng St. John’s Wort trong thời kỳ uống ivabradine.

    Các phối hợp khác

    Nghiên cứu về tương tác đặc hiệu cho thấy không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng của các thuốc sau đây tới dược động học và dược lực học của ivabradine: chất ức chế bơm proton (omeprazole, lansoprazole), sildenafil, chất ức chế HMG-CoA- reductase (simvastatin), chất ức chế kênh calci dihydropyridine (amlodipine, lacidipine), digoxin và warfarin. Thêm vào đó, ivabradine không ảnh hưởng tới dược động học của simvastatin, amlodipine, lacidipine, không ảnh hưởng tới dược động học và dược lực học của digoxin, warfarin và không ảnh hưởng tới dược lực học của aspirin.

    Các thử nghiệm lâm sàng chủ chốt ở pha III với các chế phẩm sau đây được dùng không hạn chế, do đó đã phối hợp thường quy với ivabradine và chưa thấy có vấn đề về độ an toàn: thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II, thuốc lợi niệu, các nitrat tác dụng ngắn và dài, chất ức chế HMG-CoA-reductase, các fibrat, thuốc ức chế bơm proton, thuốc uống chống tiểu đường, aspirin và các thuốc khác chống tiểu cầu.

    Chú ý đề phòng:

    Loạn nhịp tim

    Ivabradine không có hiệu lực điều trị hoặc ngăn ngừa loạn nhịp tim và cũng có thể mất hiệu lực khi có rối loạn nhịp tim nhanh (ví dụ nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh trên thất). Vì vậy không khuyến cáo dùng Ivabradine cho bệnh nhân rung nhĩ hoặc có những rối loạn nhịp tim khác mà có tương tác với chức năng của nút xoang.

    Cần theo dõi thường xuyên về lâm sàng ở bệnh nhân dùng ivabradine xem có xảy ra rung nhĩ (kéo dài hoặc kịch phát), kể cả đo điện tâm đồ khi có chỉ định của lâm sàng (ví dụ trong trường hợp đau thắt ngực trầm trọng, đánh trống ngực, mạch bất thường).

    Bệnh nhân blốc nhĩ-thất độ 2

    Không nên dùng ivabradine.

    Sử dụng cho bệnh nhân có nhịp tim chậm

    Không được khởi đầu điều trị bằng ivabradine cho bệnh nhân có nhịp tim lúc nghỉ trước điều trị dưới 60 lần một phút (xem mục Chống chỉ định).

    Nếu trong quá trình điều trị mà nhịp tim lúc nghỉ luôn dưới 50 lần một phút hoặc bệnh nhân có các triệu chứng liên quan đến chậm nhịp tim, như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều. Ngưng điều trị bằng ivabradine nếu nhịp tim dưới 50 lần/phút hoặc nếu các triệu chứng chậm nhịp tim tồn tại dai dẳng (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    Phối hợp các thuốc chống đau thắt ngực

    Không khuyến cáo phối hợp ivabradine với các thuốc chẹn calci có làm giảm tần số tim như verapamil hoặc diltiazem (xem mục Tương tác thuốc). Chưa có dữ liệu về độ an toàn khi phối hợp ivabradine với các nitrat và với các chất chẹn calci nhóm dihydropyridine như amlopidine. Chưa xác định được ivabradine có tăng hiệu lực khi phối hợp với thuốc chẹn calci nhóm dihydropyridine (xem mục Dược lực HỌC).

    Suy tim mạn tính

    Suy tim phải được kiểm soát thỏa đáng trước khi cân nhắc dùng ivabradine. Chống chỉ định sử dụng ivabradine ở bệnh nhân suy tim độ III-IV theo xếp loại của NYHA, do còn thiếu dữ liệu về hiệu lực lâm sàng và độ an toàn (xem mục Chống chỉ định). Cần thận trọng với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái không triệu chứng cũng như bệnh nhân suy tim độ II theo NYHA do số lượng bệnh nhân nghiên cứu còn ít.

    Đột quỵ

    Không khuyến cáo dùng ivabradine ngay sau khi đột quỵ, vì chưa đủ dữ liệu cho những trường hợp này.

    Chức năng thị giác

    Ivabradine có ảnh hưởng tới chức năng của võng mạc (xem mục Dược lực HỌC). Cho tới nay chưa có chứng cứ về tác hại của ivabradine trên võng mạc, hiện chưa rõ những ảnh hưởng của ivabradine điều trị kéo dài trên một năm đối với chức năng võng mạc. Cần cân nhắc sử dụng thuốc khi gặp bất kỳ bệnh lý nào liên quan tới chức năng thị giác. Cũng thận trọng với bệnh nhân viêm võng mạc sắc tố.

    Tá dược

    Vì viên nén có chứa lactose, không nên dùng cho các bệnh nhân có vấn đề về di truyền (hiếm gặp) như không dung nạp galactose, hoặc thiếu hụt men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose.

    Bệnh nhân hạ huyết áp

    Còn thiếu dữ liệu ở bệnh nhân hạ huyết áp ở mức độ nhẹ và trung bình và do đó cần dùng thận trọng ivabradine cho những đối tượng này.

    Chống chỉ định ivabradine cho bệnh nhân tụt huyết áp nghiêm trọng (huyết áp Rung nhĩ-loạn nhịp tim

    Chưa có chứng cớ về nguy cơ chậm nhịp tim (quá mức) khi quay trở lại nhịp xoang nếu bắt đầu khử rung tim cho bệnh nhân dùng ivabradine. Tuy nhiên khi chưa đủ dữ liệu, nên cân nhắc tiến hành khử rung 24 giờ sau khi dùng liều ivabradine cuối cùng.

    Sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT

    Cần tránh sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng QT bẩm sinh hoặc điều trị với các thuốc làm kéo dài đoạn QT (xem mục Tương tác thuốc). Nếu thấy cần phối hợp như vậy, cần theo dõi tim rất cẩn thận.

    Sử dụng ở bệnh nhân bị suy gan mức độ vừa

    Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân bị suy gan mức độ vừa (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    Sử dụng với bệnh nhân suy thận nghiêm trọng.

    Cần thận trọng khi sử dụng ivabradine cho bệnh nhân suy thận nghiêm trọng (độ thanh lọc creatinin Dùng cùng thức ăn và đồ uống: hạn chế ăn bưởi khi điều trị với Procoralan.

    Ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc

    Nghiên cứu đặc biệt về ảnh hưởng có thể có của ivabradine trên khả năng lái xe đã được tiến hành trên người tình nguyện khỏe mạnh mà không có chứng cớ về suy giảm khả năng lái xe. Kết quả cho thấy ivabradine không ảnh hưởng tới khả năng lái xe và vận hành máy móc.

    Tuy nhiên ivabradine có thể gây hiện tượng chói sáng tạm thời. Cần phải tính đến hiện tượng chói sáng như vậy khi lái xe hoặc sử dụng máy móc trong các trường hợp có thể có thay đổi đột ngột về cường độ ánh sáng, đặc biệt khi lái xe ban đêm.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    Chưa có dữ liệu đầy đủ về sử dụng ivabradine cho người mang thai. Nghiên cứu trên sự sinh sản ở súc vật cho thấy thuốc này độc với phôi và gây quái thai. Chưa rõ nguy cơ của thuốc này trên người. Vì vậy chống chỉ định dùng trong thai kỳ.

    Nghiên cứu trên súc vật cho thấy ivabradine bài tiết qua sữa. Do đó chống chỉ định mẹ dùng ivabradine trong thời kỳ cho con bú.

    Thông tin thành phần Ivabradine

    Dược lực:

    Ivabradine là chất làm giảm chuyên biệt nhịp tim, do tác động ức chế chọn lọc và đặc hiệu dòng If của trung tâm tạo nhịp tim, dòng ion này kiểm soát khử cực tâm trương tự phát ở nút xoang và điều hòa nhịp tim. Tác dụng trên tim của thuốc là đặc hiệu với nút xoang mà không ảnh hưởng tới thời gian dẫn truyền trong nhĩ, trong nhĩ-thất, sự tái cực thất hoặc co cơ tim.

    Ivabradine cũng có thể tương tác với dòng điện Ih ở võng mạc, rất giống với dòng If ở tim. Dòng Ih này tham gia vào độ phân giải tạm thời của hệ thị giác bằng cách làm giảm đáp ứng của võng mạc với xung ánh sáng chói.

    Trong các trường hợp bị kích thích (ví dụ thay đổi nhanh chóng độ sáng), việc ivabradine ức chế một phần dòng Ih khiến cho bệnh nhân có thể gặp hiện tượng chói sáng. Hiện tượng chói sáng (phosphene) được mô tả là tăng chói sáng tạm thời ở một vùng nhất định của thị trường.

    Tính chất dược lực học chủ yếu của ivabradine ở người là giảm nhịp tim đặc hiệu phụ thuộc vào liều lượng. Phân tích giảm nhịp tim với liều tới 20 mg mỗi lần và uống 2 lần trong ngày đã chỉ rõ có khuynh hướng đạt tới tác dụng bình nguyên cùng với giảm nguy cơ nhịp tim chậm nghiêm trọng dưới 40 nhịp mỗi phút.

    Với liều khuyến cáo thông thường, nhịp tim giảm khoảng 10 lần một phút lúc nghỉ và trong lúc luyện tập. Điều này làm giảm gánh nặng khi tim hoạt động và giảm nhu cầu oxy cho cơ tim.

    Ivabradine không ảnh hưởng tới dẫn truyền trong tim, tới co bóp tim (không có tác dụng ức chế sự co sợi cơ tim) hoặc sự tái cực của tâm thất.

    Trong các nghiên cứu điện sinh lý lâm sàng, ivabradine không có tác dụng trên thời gian dẫn truyền nhĩ- thất hoặc trong thất, không làm biến đổi đoạn QT trên điện tâm đồ.

    Với bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm thất trái (phân suất tống máu của thất trái ở trong khoảng 30% và 45%), ivabradine không có tác hại nào đối với phân suất tống máu.

    Hiệu lực chống đau thắt ngực và chống thiếu máu cục bộ của Procoralan được nghiên cứu trong 5 thử nghiệm mù kép chọn ngẫu nhiên (3 so với giả dược, 1 so vơi atenolol, 1 so với amlodipin). Những thử nghiệm này bao gồm tổng cộng 4111 bệnh nhân có đau thắt ngực mạn tính ổn định, trong số này có 2617 người uống ivabradine.

    Ivabradine với liều mỗi lần 5 mg, mỗi ngày 2 lần, có hiệu lực trên các thông số làm test gắng sức trong vòng 3-4 tuần điều trị. Hiệu lực được xác định với liều mỗi lần 7,5 mg, ngày 2 lần. Đặc biệt, lợi ích tăng thêm với liều trên 5 mg, mỗi ngày hai lần, được xác định qua nghiên cứu quy chiếu có kiểm soát, so sánh với atenolol: tổng thời gian gắng sức vào cuối liều tăng khoảng 1 phút sau một tháng điều trị với liều mỗi lần 5 mg, ngày 2 lần và được cải thiện thêm khoảng 25 giây sau khi điều trị thêm 3 tháng với liều tăng lên mỗi lần 7,5 mg, ngày 2 lần. Trong nghiên cứu này, các lợi ích chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ của ivabradine được xác định trên bệnh nhân 65 tuổi. Hiệu lực của liều 5 và 7,5 mg mỗi ngày 2 lần là nhất quán qua các nghiên cứu về các thông số test gắng sức (tổng thời gian gắng sức, thời gian xuất hiện cơn đau thắt ngực, thời gian làm giảm được 1 mm đoạn ST) và kết hợp với giảm khoảng 70% tần số các cơn đau thắt ngực. Chế độ uống ivabradine 2 lần mỗi ngày đã cho hiệu lực không thay đổi trong 24 giờ.

    Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, so sánh với giả dược trên 889 bệnh nhân cho thấy Ivabradine khi phối hợp với Atenolol 50mg/ngày cho thấy mang lại hiệu quả cộng thêm trên tất cả các chỉ số của test gắng sức ngay cả ở thời điểm hiệu lực của thuốc là thấp nhất (12 giờ sau khi uống).

    Trong một nghiên cứu trên 725 bệnh nhân, chọn ngẫu nhiên và so sánh với giả dược, thấy ivabradine không có hiệu cộng thêm khi phối hợp với amlodipine vào cuối liều (12 giờ sau khi uống thuốc), nhưng có hiệu lực ở mức định liều (3-4 giờ sau khi uống).

    Hiệu lực của ivabradine được duy trì trong suốt thời gian điều trị 3 hoặc 4 tháng trong các thử nghiệm về hiệu lực. Không có chứng cứ về dung nạp dược lý học (mất hiệu lực) xảy ra trong quá trình điều trị hoặc hiện tượng dội ngược sau khi ngưng thuốc đột ngột. Tác dụng chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ của ivabradine đi kèm với tác dụng giảm nhịp tim phụ thuộc liều lượng và giảm rõ rệt về tích số tần số huyết áp (tần số tim x huyết áp tâm thu) khi nghỉ ngơi và khi gắng sức. Tác dụng của thuốc này trên huyết áp và sự đề kháng mạch ngoại biên hầu như không thấy và không có ý nghĩa lâm sàng.

    Sự giảm tần số tim kéo dài đã được chứng minh với bệnh nhân dùng ivabradine trong ít nhất 1 năm (n=713). Không nhận thấy thuốc này có ảnh hưởng tới chuyển hóa glucose và lipid.

    Hiệu lực của ivabradine chống đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ cũng được xác định trên bệnh nhân tiểu đường (n=457) với các thông số an toàn tương tự khi so sánh với dân số chung.

    Dược động học :

    Trong điều kiện sinh lý, ivabradine được phóng thích nhanh khỏi viên nén và tan mạnh trong nước (>10 mg/ml), ivabradine là đồng phân đối hình S không có chuyển dạng sinh học qua chứng minh in vivo. Chất chuyển hóa N-khử methyl của ivabradine được xác định là chất có hoạt tính chủ yếu trên người.

    Hấp thu và sinh khả dụng

    Ivabradine hấp thu nhanh và hầu như hoàn toàn sau khi uống với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khoảng 1 giờ nếu uống thuốc khi đói. Sinh khả dụng tuyệt đối của viên nén bao phim là khoảng 40%, do vòng chuyển hóa đầu tiên tại ruột và gan.

    Thức ăn làm chậm hấp thu khoảng 1 giờ, làm tăng phơi nhiễm thuốc trong huyết tương lên 20-30%. Khuyến cáo uống thuốc trong bữa ăn nhằm làm giảm thay đổi trong cá thể về độ phơi nhiễm thuốc.

    Phân bố

    Ivabradine gắn khoảng 70% vào protein huyết tương và thể tích phân bố trong trạng thái ổn định gần 100 lít ở bệnh nhân. Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khi uống lâu dài liều khuyến cáo (mỗi lần 5 ml, ngày 2 lần) là 22 nanogam/ml (CV=29%). Nồng độ trung bình trong huyết tương là 10 nanogam/ml ở trạng thái ổn định (CV=38%).

    Chuyển dạng sinh học

    Ivabradine được chuyển hóa mạnh qua gan và ruột, bằng cách oxy hóa qua duy nhất cytochrome P450 3A4 (CYP3A4).

    Chất chuyển hóa chính có hoạt tính là dẫn xuất N-khử Methyl với độ phơi nhiễm khoảng 40% của hoạt chất Ivabradine ban đầu. Ivabradine có ái lực yếu với CYP3A4, không ức chế hoặc gây cảm ứng rõ rệt CYP3A4, vì vậy không chắc có làm thay đổi chuyển hóa hoặc các nồng độ trong huyết tương của các cơ chất của CYP3A4. Ngược lại các chất ức chế mạnh CYP3A4 và các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4 lại có thể tác động rõ rệt tới các nồng độ của ivabradine trong huyết tương.

    Đào thải

    Ivabradine đào thải với thời gian bán thải chính là 2 giờ (70-75% diện tích dưới đường cong) trong huyết tương, còn thời gian bán thải có hiệu lực là 11 giờ. Độ thanh lọc tổng quát là khoảng 400ml/phút và độ thanh lọc qua thận khoảng 70 ml/phút. Đào thải của các chất chuyển hóa qua phân và nước tiểu với lượng tương đương nhau. Khoảng 4% liều uống được thải nguyên vẹn qua nước tiểu.

    Tuyến tính/không tuyến tính

    Động học của ivabradine là tuyến tính với liều uống 0,5-24 mg.

    Những đối tượng đặc biệt

    – Với người cao tuổi: không có khác biệt về dược động học (diện tích dưới đường cong và nồng độ đỉnh) khi so sánh giữa bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi) hoặc rất cao tuổi (≥ 75 tuổi) với dân số chung.

    – Suy thận: ảnh hưởng của suy thận (độ thanh lọc creatinin = 15-60 ml/phút) tới động học của ivabradine là tối thiểu, phù hợp với việc độ thanh lọc ở cầu thận tham gia ít (khoảng 20%) tới sự đào thải toàn thể của cả ivabradine và chất chuyển hóa chính S18992 (xem mục Liều lượng và cách dùng).

    – Suy gan: Với bệnh nhân suy gan nhẹ (độ Child – Pugh tới 7), diện tích dưới đường cong của ivabradine và của chất chuyển hóa chính có hoạt tính cao hơn khoảng 20% so với người có chức năng gan bình thường.

    Không có dữ liệu cho bệnh nhân suy gan nặng (xem mục Liều lượng và cách dùng và Chống chỉ định).

    Dữ liệu không đủ mạnh để kết luận cho bệnh nhân suy gan vừa.

    Liên quan giữa dược động học / dược lực học (PK/PD)

    Phân tích về sự liên quan dược động học / dược lực học cho thấy tần số tim giảm gần như tuyến tính khi tăng các nồng độ ivabradine và S18982 trong huyết tương cho tới liều mỗi lần 15-20 mg, mỗi ngày 2 lần. Với liều cao hơn thì sự giảm tần số tim sẽ không còn tỷ lệ thuận với nồng độ ivabradine trong huyết tương và có khuynh hướng đạt bình nguyên, độ phơi nhiễm cao của ivabradine có thể gặp khi phối hợp ivabradine với những chất ức chế mạnh CYP3A4 có thể kéo theo giảm tần số tim quá mức, trong khi nguy cơ đó sẽ giảm đi khi phối hợp với chất ức chế vừa phải CYP3A4.

    An toàn tiền lâm sàng

    Nghiên cứu về độc tính trên sự sinh sản cho thấy ivabradine không ảnh hưởng tới sinh sản chuột cống đực và cái. Khi chuột cống có thai được điều trị trong thời kỳ tạo cơ quan của thai với độ phơi nhiễm gần với liều điều trị, thấy gia tăng tỷ lệ thai có dị tật tim và một số ít thai bị thiếu ngón chân.

    Cho chó uống ivabradine (liều 2, 7 hoặc 24mg/kg/ngày) trong một năm, thấy thay đổi có hồi phục về chức năng giác mạc, nhưng không kèm theo bất kỳ hủy hoại gì ở cấu trúc mắt. Dữ liệu này phù hợp với tác dụng dược lý của ivabradine có liên quan tới tương tác với dòng điện If, hoạt hóa sự tăng phân cực trong võng mạc, mà có sự tương đồng rộng rãi với dòng điện Ih ở trung tâm điều hòa nhịp tim.

    Các nghiên cứu khác dài hạn với liều liên tiếp về độc tính gây ung thư cho thấy không thấy có thay đổi rõ ràng về lâm sàng.

    Chỉ định :

    Điều trị triệu chứng đau thắt ngực mạn tính ổn định ở bệnh nhân mạch vành có nhịp xoang bình thường.

    Ivabradine được chỉ định:

    – trên những bệnh nhân không dung nạp hoặc chống chỉ định với chẹn beta.

    – hoặc phối hợp với chẹn beta trên những bệnh nhân chưa được kiểm soát đầy đủ với chẹn beta và có nhịp tim > 60 nhịp/phút.

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều khuyến cáo khởi đầu thông thường là mỗi lần 5 mg ivabradine, mỗi ngày 2 lần.
    Sau 3-4 tuần điều trị, có thể tăng liều, mỗi lần dùng 7,5 mg, ngày hai lần, tùy thuộc vào đáp ứng điều trị.
    Nếu trong quá trình điều trị mà tình trạng nhịp tim giảm đến dưới 50 lần mỗi phút lúc nghỉ ngơi xảy ra dai dẳng hoặc bệnh nhân có gặp những triệu chứng liên quan đến nhịp tim chậm như choáng váng, mệt mỏi hoặc tụt huyết áp, thì phải giảm liều đến mức có thể là mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần (tức một nửa của viên 5 mg, mỗi ngày 2 lần). Phải ngừng điều trị nếu nhịp tim vẫn dưới 50 lần/phút hoặc các triệu chứng của nhịp chậm vẫn tồn tại (xem mục Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng).
    Phải dùng đường uống các viên nén, mỗi ngày 2 lần, tức một lần vào buổi sáng, một lần vào buổi tối trong các bữa ăn (xem mục Dược động học).
    Người cao tuổi
    Ivabradine chỉ được nghiên cứu ở một số lượng hạn chế bệnh nhân ≥ 75 tuổi, nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp hơn cho các bệnh nhân thuộc lứa tuổi cao này (mỗi lần 2,5 mg, mỗi ngày 2 lần, tức mỗi lần một nửa viên loại 5 mg, ngày 2 lần) trước khi tăng liều, nếu cần thiết.
    Suy thận
    Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận và có độ thanh lọc creatinin > 15 ml/phút (xem mục Dược động học).
    Chưa có dữ liệu với bệnh nhân mà độ thanh lọc creatinin dưới 15 ml/phút. Vì vậy dùng ivabradine thận trọng với các đối tượng này.

    Suy gan
    Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy gan nhẹ. Cần thận trọng khi dùng ivabradine cho bệnh nhân suy gan mức trung bình. Chống chỉ định sử dụng thuốc này cho bệnh nhân suy gan nặng, vì chưa có nghiên cứu cho các đối tượng này và dự kiến làm tăng mạnh độ phơi nhiễm ở hệ thống (xem các mục Chống chỉ định và Dược động học).
    Trẻ em và vị thành niên
    Không khuyến cáo dùng thuốc cho trẻ em và vị thành niên vì chưa có nghiên cứu về hiệu lực và độ an toàn của ivabradine cho những đối tượng này.

    Chống chỉ định :

    – Quá mẫn cảm với ivabradine hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào (xem mục Thành phần).

    – Nhịp tim lúc nghỉ dưới 60 lần/phút trước khi điều trị.

    – Sốc tim.

    – Nhồi máu cơ tim cấp.

    – Tụt huyết áp nghiêm trọng (- Suy gan nặng.

    – Hội chứng xoang.

    – Blốc xoang nhĩ.

    – Suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA do còn thiếu dữ liệu.

    – Bệnh nhân phụ thuộc máy tạo nhịp.

    – Đau thắt ngực không ổn định.

    – Blốc nhĩ-thất độ 3.

    – Phối hợp với các chất ức chế mạnh cytochrom P450-3A4, như các thuốc chống nấm nhóm azole (ketoconazole, itraconazole), kháng sinh nhóm macrolid (clarithromycin, erythromycin uống, fosamycin), chất ức chế HIV- protease (melfinavir, ritonavir) và mefazodone (xem các mục Tương tác thuốc và Dược động học).

    – Mang thai và thời kỳ cho con bú.

    Tác dụng phụ

    Rối loạn về thị giác:

    Rất hay gặp: (>1/10)

    Hiện tượng chói sáng (phosphene): xảy ra ở 14,5% số bệnh nhân, được mô tả như tăng tạm thời cảm nhận ánh sáng ở vùng hạn chế của thị trường. Thường gây ra do thay đổi đột ngột cường độ ánh sáng. Hiện tượng phosphene thường bắt đầu trong 2 tháng điều trị đầu tiên, sau đó có thể bị lại. Phosphene thường được báo cáo có cường độ từ nhẹ đến trung bình. Tất cả các hiện tượng phosphene đều sẽ khỏi trong thời gian dùng thuốc hoặc sau đó.

    Thường gặp: (> 1/100; Nhìn mờ.

    Rối loạn về tim mạch

    Thường gặp: (>1/100; – Nhịp tim chậm: 3,3% số bệnh nhân có nhịp tim chậm, đặc biệt trong 2-3 tháng điều trị đầu tiên. Có 0,5% số bệnh nhân có nhịp tim chậm nghiêm trọng ≤ 40 nhịp/phút.

    – Blốc nhĩ thất độ 1.

    – Ngoại tâm thu thất.

    Ít gặp: (>1/1000; – Đánh trống ngực, ngoại tâm thu trên thất.

    – Những hiện tượng sau đây được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng và có tần số tương đương với nhóm so sánh và/ hoặc có khả năng liên quan đến bệnh gốc: loạn nhịp xoang, đau thắt ngực không ổn định, đau thắt ngực trầm trọng thêm, rung nhĩ, thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim và nhịp nhanh thất.

    Rối loạn tiêu hóa

    Ít gặp: (>1/1000, Buồn nôn, táo bón, tiêu chảy.

    Xét nghiệm

    Ít gặp: (>1/1000, – Tăng acid uric máu, tăng bạch cầu ưa eosin, tăng creatinin-máu.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Procoralan 5mg và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Procoralan 5mg bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Vastarel MR

    Thuốc Vastarel MR

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Vastarel MR công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Vastarel MR điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Vastarel MR ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Vastarel MR

    Vastarel MR
    Nhóm thuốc: Thuốc tim mạch
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim giải phóng có biến đổi
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 30 viên

    Thành phần:

    Trimetazidine dihydrochloride 35mg
    SĐK:VN-17735-14
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Điều trị dự phòng các cơn đau thắt ngực trong bệnh tim thiếu máu cục bộ.
    – Điều trị phụ trợ triệu chứng chóng mặt và ù tai (nghe âm thanh khác lạ trong tai).
    – Điều trị phụ trợ tình trạng giảm thị lực và rối loạn thị giác có nguồn gốc tuần hoàn.
    Dược lực
    – Do duy trì được chuyển hóa năng lượng ở tế bào thiếu oxy hoặc thiếu máu cục bộ nên Trimetazidine giúp ngăn ngừa sự tụt giảm hàm lượng ATP nội bào, qua đó đảm bảo hoạt động của các bơm ion và các dòng natri-kali qua màng trong khi vẫn duy trì tính hằng định nội môi của tế bào.
    – Trên bệnh nhân bị đau thắt ngực, Trimetazidine:
    * Làm tăng đáp ứng với gắng sức của mạch vành ngay từ ngày thứ 15 điều trị.
    * Làm giảm những thay đổi đột ngột về huyết áp khi gắng sức mà không làm thay đổi đáng kể nhịp tim.
    * Làm giảm rõ rệt tần suất các cơn đau thắt ngực.
    Dược động học
    – Bustidin được hấp thu nhanh chóng và đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trước 2 giờ.
    – Thuốc khuếch tán tốt vào mô và liên kết thấp với protein huyết tương. Thời gian bán hủy là 6 giờ.
    – Bustidin được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi.

    Liều lượng – Cách dùng

    * Viên 20mg: Uống 1 viên/lần, ngày 3 lần vào bữa ăn. 

    * Viên giải phóng chậm MR 35mg: Uống 1 viên/lần vào buổi sáng và buổi tối. 
    Uống thuốc với 1 ly nước vào bữa ăn.

    Chống chỉ định:

    – Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với Trimetazidin hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

    – Trong suốt thời kỳ cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Hiện nay, chưa thấy có tương tác với thuốc nào, tuy nhiên vẫn cần thận trọng theo dõi khi phối hợp với các thuốc khác.

    Tác dụng phụ:

    – Hiếm gặp: rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn).

    – Rất hiếm gặp: run, co cứng, khó cử động. Các tác dụng không mong muốn này sẽ mất đi khi ngưng điều trị.

    Chú ý đề phòng:

    – Không dùng Bustidin cho bệnh nhân đang lên cơn đau ngực hoặc để điều trị khởi đầu cơn đau thắt ngực không ổn định.

    – Không dùng để điều trị nhồi máu cơ tim.

    Lúc có thai và lúc nuôi con bú

    – Thời kỳ mang thai: tốt nhất không dùng thuốc này trong khi mang thai.

    – Thời kỳ cho con bú: chưa có dữ liệu về sự bài tiết của Trimetazidin qua sữa mẹ, vì vậy không nên cho con bú trong suốt thời gian điều trị.

    Thông tin thành phần Trimetazidine dihydrochloride

    Dược lực:

    Trimetazidine là thuốc trị chứng đau thắt và chống thiếu máu cục bộ duy nhất thuộc nhóm các hợp chất mới có tác dụng chống thiếu máu cục bộ mà không gây ra bất kỳ thay đổi huyết động nào, và cải thiện tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim. Thuốc có tác dụng trị chứng đau thắt thông qua tác động trực tiếp bảo vệ tế bào trên cơ tim, do đó tránh được các tác dụng ngoại ý như thiểu năng tâm thất trái, giãn mạch ngoại biên quá mức và các bất lợi khác khi dùng các thuốc trị chứng đau thắt.

    Dược động học :

    Thuốc được hấp thu nhanh, với đỉnh trong huyết tương đạt được khoảng 2 giờ sau khi uống thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối hơn 85%. Nồng độ tối đa trong huyết tương khoảng 85 ng/ml sau khi dùng liều duy nhất 40 mg trimetazidine. Thể tích phân phối biểu kiến là 4,8 l/kg ; gắn kết với protein huyết tương thấp, khoảng 21%.

    Trimetazidine được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ; thời gian bán hủy trung bình là 5,5 giờ.

    Tác dụng :

    Trimetazidine giữ ổn định năng lượng của tế bào trong tình trạng giảm oxy huyết toàn thân hoặc thiếu máu cục bộ. Thuốc ngăn chặn các biểu hiện điện sinh lý của thiếu máu cục bộ. Thuốc làm giảm sự gia tăng đoạn ST trong điện tâm đồ của chó bị nhồi máu cơ tim thử nghiệm.

    Với sự hiện diện của trimetazidine, sự nhiễm toan trong tế bào gây bởi thiếu máu cục bộ giảm đáng kể và nhanh chóng trở lại gần như bình thường.

    Nghiên cứu điện thế năng lượng tế bào ở chuột lớn sau khi tiêm vasopressin và ở chuột nhắt trong trạng thái giảm oxy mô trầm trọng cho thấy rằng trimetazidine có tác dụng : Ngăn ngừa sự sụt giảm năng lượng cung cấp ATP trong tế bào cơ tim ; ngăn ngừa sự sụt giảm dự trữ ATP và AMP vòng trong tế bào não ; duy trì hoạt động chức năng của các enzym ty lạp thể, nơi sản xuất năng lượng tế bào trong tế bào gan.

    Trimetazidine làm giảm độc tính của các gốc tự do được oxy hóa trong tình trạng thiếu máu cục bộ tế bào. Do đó thuốc có tác dụng bảo vệ tế bào chống lại sự giảm oxy mô.

    Những đặc tính này tỉ lệ với mức độ giảm oxy mô tế bào và không phụ thuộc vào sự hoạt hóa giao cảm.

    Các thử nghiệm mù đôi có kiểm soát trong chứng đau thắt đã chứng minh rằng trimetazidine làm gia tăng sự dung nạp thực hành bắt đầu từ ngày thứ 15 của trị liệu, với một sự gia tăng đáng kể tổng năng lực làm việc ở thử nghiệm dung nạp thực hành ; làm giảm đáng kể tần số và cường độ các đợt đau thắt ; và làm giảm đáng kể sự sử dụng trinitrate.

    Chỉ định :

    Trimetazidine được chỉ định trong điều trị bệnh tim do thiếu máu cục bộ (cơn đau thắt ngực, di chứng nhồi máu). Điều trị dài hạn cơn đau thắt ngực.

    Liều lượng – cách dùng:

    3 viên 20 mg /ngày (24 giờ), nên chia làm 3 lần trong các bữa ăn.

    Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy chức năng gan và thận.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn với trimetazidine.

    Tác dụng phụ

    Thường thấy nhất là khó chịu dạ dày, buồn nôn, nhức đầu và chóng mặt. Tuy nhiên các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và không đặc hiệu.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Vastarel MR và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Vastarel MR bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Daflon

    Thuốc Daflon

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Daflon công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Daflon điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Daflon ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Daflon

    Daflon
    Nhóm thuốc: Thuốc tim mạch
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên; hộp 4 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    diosmin 450mg; hesperidin 50mg
    Hàm lượng:
    500mg
    SĐK:VN-15519-12
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Suy tĩnh mạch – mạch bạch huyết (nặng chân vào buồi sáng, đau chân)
    Bệnh trĩ cấp
    Dược lực:
     
    Thuốc trợ tĩnh mạch và bảo vệ mạch máu.
     
    Dược lý : 
    Thuốc có tác động trên hệ thống mạch máu trở về tim :
     
    – ở tĩnh mạch, thuốc làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch và làm giảm ứ trệ ở tĩnh mạch ;
     
    – ở vi tuần hoàn, thuốc làm bình thường hóa tính thấm của mao mạch và tăng cường sức bền của mao mạch.
     
    – Về dược lý lâm sàng : các nghiên cứu mù đôi có kiểm soát trong đó sử dụng các phương pháp cho phép quan sát và đánh giá hoạt tính của thuốc trên động lực máu ở tĩnh mạch đã xác nhận các đặc tính dược lý của thuốc trên người.
     
    Tương quan giữa liều dùng và hiệu lực :
     
    Mối tương quan liều dùng/hiệu lực, có ý nghĩa đáng kể về phương diện thống kê, được thiết lập dựa trên các thông số của phương pháp ghi biến đổi thể tích của tĩnh mạch : dung kháng, tính căng giãn và thời gian tống máu. Các kết quả cho thấy rằng tương quan tốt nhất giữa liều dùng và hiệu lực thu được khi dùng 2 viên 500mg /ngày.
     
    Tác động trợ tĩnh mạch
     
    Thuốc làm tăng trương lực của tĩnh mạch : dùng máy ghi biến đổi thể tích cho thấy có sự giảm thời gian tống máu ở tĩnh mạch.
     
    Tác động trên vi tuần hoàn :
     
    Các nghiên cứu mù đôi có kiểm soát cho thấy rằng có sự khác nhau đáng kể về mặt thống kê giữa thuốc và placebo. Ở bệnh nhân có các dấu hiệu mao mạch bị giòn, dễ vỡ, thuốc làm tăng cường sức bền của mao mạch được đo bằng phương pháp đo sức bền của mạch máu (angiosterrométrie).

    Liều lượng – Cách dùng

    Suy tĩnh mạch – mạch bạch huyết (nặng chân vào buồi sáng, đau chân)
    2 viên/ngày, một viên uống vào buổi trưa và một viên uống vào buổi tối.
     
    Bệnh trĩ cấp
    6 viên/ngày trong 4 ngày đầu, sau đó 4 viên/ngày trong 3 ngày tiếp theo.
    Uống thuốc trong bữa ăn.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

    Phụ nữ có thai.

    Phụ nữ cho con bú.

    Tác dụng phụ:

    Rối loạn tiêu hóa.

    Rối loạn thần kinh thực vật nhẹ, không cần ngừng điều trị.

    Chú ý đề phòng:

    Trĩ cấp: Thuốc này không thay thế cho điều trị đặc hiệu các bệnh khác của hậu môn.

    Dùng trong điều trị ngắn hạn. Nếu các triệu chứng không mất đi nhanh chóng, cần tiến hành khám hậu môn và xem lại cách điều trị.

    Chưa có báo cáo về thuốc gây tác dụng có hại ở người.

    Không nên cho con bú trong thời gian dùng thuốc do chưa có đầy đủ dữ liệu về tính an toàn.

    Chưa có dữ liệu nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

    Mua thuốc daflon

    thuốc trị bệnh trĩ 

    Thông tin thành phần Diosmin

    Dược lực:

    Diosmin là flavonoid có tác dụng chống oxy hoá, có rất nhiều trong cây cỏ. Các chế phẩm chứa flavonoid tự nhiên hoặc bán tổng hợp có tác dụng tăng cường chức năng mao mạch. Chúng được dùng để làm giảm sự suy yếu mao mạch và tĩnh mạch ở chi dưới và để điều trị trĩ.

    Dược động học :

    Ở người, sau khi uống chất có chứa diosmin được đánh dấu bởi Carbon 14, cho thấy:

    – Thuốc được chuyển hóa mạnh mẽ với sự hiện diện của những acid phenol khác nhau trong nước tiểu.

    – Bài tiết chủ yếu qua phân, phần còn lại (khoảng 14% liều dùng) được bài tiết trong nước tiểu.

    – Thời gian bán thải của thuốc khoảng 11 giờ.

    Tác dụng :

    – Diosmin và hesperidin là các hợp chất flavonoid có tác dụng làm tăng trương lực tĩnh mạch và bảo vệ mạch. Khi phối hợp 2 thành phần này với nhau, thuốc làm kéo dài tác dụng co mạch của noradrenalin trên thành tĩnh mạch.

    – Thuốc tác dụng trên hệ thống mạch máu trở về tim bằng cách: Làm giảm trương lực và sự ứ trệ của tĩnh mạch. Trong vi tuần hoàn, thuốc làm giảm tính thấm mao mạch và tăng sức bền mao mạch.

    Chỉ định :

    Điều trị các triệu chứng và dấu hiệu của suy tĩnh mạch – mạch bạch huyết vô căn mạn tính ở chi dưới như nặng ở chân, đau chân, phù chân, chuột rút về đêm và chồn chân. 

    Điều trị các triệu chứng của cơn trĩ cấp và bệnh trĩ mạn tính.

    Liều lượng – cách dùng:

    Nên uống thuốc cùng với bữa ăn. 

     Người lớn:
     – Thiểu năng tĩnh mạch mạn tính: Liều dùng thông thường 1 viên (500mg) /lần, 2 lần/ngày. 
    – Cơn trĩ cấp: mỗi ngày 6 viên (500mg) ở 4 ngày đầu, mỗi ngày 4 viên ở 3 ngày tiếp theo.
     
    – Bệnh trĩ mạn tính: 2 viên mỗi ngày. 
    Trẻ em: Tham khảo ý kiến bác sĩ.

    Tác dụng phụ

    Tác dụng phụ của thuốc thường nhẹ và hiếm gặp bao gồm rối loạn tiêu hóa và rối loạn thần kinh thực vật, không cần ngừng điều trị.

    Ngưng sử dụng và hỏi ý kiến bác sĩ nếu có bất kỳ các vấn đề bất thường nào xảy ra trong khi dùng thuốc.

    Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi dùng thuốc.

    Thông tin thành phần Hesperidin

    Dược lực:

    Hesperidin là một bioflavonoid tự nhiên bioflavonoid, một hợp chất trong thực vật với tính chất chống oxi hóa. Bioflavonoids cũng cung cấp các màu sắc, mùi vị và hương thơm.

    Tác dụng :

    Ta có thể nhận được hesperidin trong thực phẩm nhất định hoặc như là một bổ sung chế độ ăn uống. Trong khi hesperidin và khác tương tự như bioflavonoids được thường được gọi là vitamin P, họ là không thực tế vitamin. Hesperidin không tự nhiên tổng hợp trong cơ thể; bạn chỉ có thể nhận được nó thông qua thực phẩm hoặc tổng hợp bổ sung. Trước khi sử dụng một bổ sung hesperidin, tham khảo ý kiến bác sĩ của bạn để xác định nó an toàn cho điều kiện sức khỏe của bạn.

    Hesperidin cũng là hữu ích, cùng với hợp chất naringin, như là một điều trị tiềm năng để giúp hạ đường huyết.

    Hesperidin có tác dụng trong điều trị hoặc ngăn chặn rối loạn khác nhau, bao gồm cholesterol cao và bệnh tiểu đường.

    Chỉ định :

    Sự kết hợp hesperidin và bioflavonoids khác, chẳng hạn như diosmin, giúp làm giảm bớt bệnh trĩ và suy tĩnh mạch mãn tính.

    Liều lượng – cách dùng:

    Lượng hàng ngày được đề nghị của hesperidin dành cho người lớn là 10 đến 25 mg, nhưng người sử dụng nó để điều trị cácbệnh có thể tăng lên 50-500 mg, kết hợp với bioflavonoids khác.

    Tham khảo ý kiến bác sĩ để hướng dẫn liều lượng cụ thể;

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Daflon và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Daflon bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Duxil 48ml

    Thuốc Duxil 48ml

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Duxil 48ml công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Duxil 48ml điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Duxil 48ml ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Duxil 48ml

    Duxil 48ml
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Hỗn dịch uống
    Đóng gói:Hộp 1 Lọ 48ml

    Thành phần:

    Almitrine, Ranbasine
    Hàm lượng:
    48ml
    SĐK:VN-7681-03
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier Industrie
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Các triệu chứng suy giảm trí năng bệnh lý (các rối loạn chú ý, giảm trí nhớ, giảm tập trung, suy giảm các hoạt động trí tuệ). Rối loạn ốc tai tiền đình (chóng mặt, ù tai, giảm thính lực) hay võng mạc (giảm thị lực) do nguyên nhân mạch máu. Ðược sử dụng trong tai biến mạch máu não giai đoạn phục hồi chức năng.

    Chống chỉ định:

    Không được dùng kèm với thuốc IMAO.

    Tương tác thuốc:

    IMAO không chọn lọc.

    Tác dụng phụ:

    sụt cân, rối loạn thần kinh ngoại biên, buồn nôn, khó tiêu, rối loạn nhu động ruột, mất ngủ, buồn ngủ, vật vã, lo âu, đánh trống ngực, cảm giác choáng váng.

    Chú ý đề phòng:

    Không dùng với thuốc có almitrine (Vectarion).

    Thông tin thành phần Almitrine

    Dược động học :

    – Hấp thu: Almitrine được hấp thu nhanh và đạt đỉnh hấp thu trong huyết tương 3 giờ sau khi uống thuốc.

    – Phân bố: Gắn kết với protein huyết tương cao (trên 99%).

    – Chuyển hoá: Thuốc chủ yếu được chuyển hóa ở gan.

    – Thải trừ: Almitrine và các chất chuyển hóa chủ yếu được bài tiết qua mật.

    Thuốc được đào thải qua phân và nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính. Sau khi dùng một liều duy nhất, thuốc có thời gian bán hủy đào thải trong khoảng 40 đến 80 giờ ; thời gian này là 30 ngày sau khi dùng lặp lại.

    Tác dụng :

    Almitrine làm tăng áp suất của oxy trong máu động mạch (PaO2) và tăng độ bão hòa về oxy ở động mạch (SaO2) mà không làm thay đổi các chỉ số thông khí.

    Chỉ định :

    Suy hô hấp kèm giảm oxy huyết có liên quan đến bệnh viêm phế quản mạn gây tắc.

    Liều lượng – cách dùng:

    Ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 1 viên vào bữa ăn. Đợt dùng 3 tháng, nghỉ 1 tháng lại dùng tiếp 2 tháng.

    Chống chỉ định :

    Bệnh gan nặng, phụ nữ có thai hoặc nuôi con bú.

    Tác dụng phụ

    Sút cân, rối loạn tiêu hóa, chóng mặt, khó thở, rối loạn giấc ngủ, bứt rứt, hồi hộp, đánh trống ngực. Bệnh thần kinh ngoại biên với cảm giác bất thường ở chi dưới hoặc dị cảm.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Duxil 48ml và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Duxil 48ml bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Duxil

    Thuốc Duxil

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Duxil công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Duxil điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Duxil ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Duxil

    Duxil
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao phim
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Raubasine, Almitrin Bismesylat
    SĐK:VN-6286-02
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier Industrie
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Dược lực học
    Duxil làm giàu oxygène cho máu động mạch, giải quyết được tình trạng thiếu oxy mô. Tác động của Duxil được chứng tỏ rất tốt trong các khảo sát trên động vật được gây thiếu oxy ở mô não, cũng như trong các nghiên cứu dược lý lâm sàng trên người.
    Ở động vật, Duxil gây tăng áp suất riêng phần của oxy trong máu động mạch (PaO2), do đó làm:
    Tăng áp suất oxy đến mô (PO2) ở vỏ não.
    Tăng sử dụng oxy ở mô não.
    Hướng sự chuyển hóa ở tế bào não theo hướng hiếu khí với tăng năng lượng ở tế bào. Tác động của Duxil trên PaO2, PO2, trên mức độ sử dụng oxy ở não và điện não đồ chủ yếu là do tác động của almitrine. Đây là một hoạt chất chính của Duxil, mà tác động của nó được bổ sung về cường độ và thời gian bởi một hoạt chất chính khác là raubasine.
    Ở người, các nghiên cứu dược lý lâm sàng cho phép kết luận rằng Duxil có những tác động như sau :
    Tăng áp suất riêng phần của oxy trong máu động mạch (PaO2).
    Tăng độ bão hòa về oxy ở động mạch (SaO2).
    Giảm sự mất bão hòa về oxy ở động mạch khi gắng sức, kiểm tra động học được xem như là một trong những biện pháp tốt nhất hiện nay để đánh giá hiệu quả điều trị thiếu oxy mô.
    Tăng hàm lượng trong máu của 2-3 diphosphoglycérate, là một dạng tồn tại của oxy trong máu động mạch.
    Hoạt hóa sự chuyển hóa ở mô não được xác nhận qua các kiểm tra về glucose, nghiên cứu điện sinh vỏ não bằng điện não đồ định lượng.
    Sự cải thiện các thông số đo khí có liên quan đến sự tăng hiệu suất của quá trình trao đổi khí ở phế nang, được gây bởi almitrine, hoạt chất chính của Duxil mà không làm biến đổi các chỉ số thông khí.
    Trong các trường hợp sau tai biến mạch máu não, các nghiên cứu được thực hiện nhờ vào phương pháp chụp cắt lớp phát xạ positron và photon cho thấy dưới tác dụng của Duxil, mối tương quan tưới máu/ chuyển hóa đạt được tối ưu và có cải thiện sự tưới máu dự trữ não.
    Dược động học
    Almitrine được hấp thu nhanh và đạt đỉnh hấp thu trong huyết tương 3 giờ sau khi uống thuốc. Thuốc chủ yếu được chuyển hóa ở gan.
    Almitrine và các chất chuyển hóa chủ yếu được bài tiết qua mật.
    Thuốc được đào thải qua phân và nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính. Sau khi dùng một liều duy nhất, thuốc có thời gian bán hủy đào thải trong khoảng 40 đến 80 giờ ; thời gian này là 30 ngày sau khi dùng lặp lại. Gắn kết với protéine huyết tương cao (trên 99%). Raubasine được hấp thu nhanh và đạt đỉnh hấp thu trong huyết tương từ 1 đến 2 giờ sau khi uống thuốc. Sau khi dùng liều duy nhất, chất này có thời gian đào thải trong khoảng 7 đến 15 giờ ; thời gian này là 11 giờ sau khi dùng lặp lại.
    Chỉ định
    Duxil được dùng điều trị các triệu chứng giảm sút trí tuệ bệnh lý ở người già (như không tập trung, mất trí nhớ…). Duxil được đề nghị trong :
    Các rối loạn màng mạch-võng mạc có nguồn gốc do thiếu máu cục bộ.
    Các rối loạn tiền đình ốc tai có nguồn gốc do thiếu máu cục bộ. Duxil được chỉ định sau các tai biến thiếu máu não cục bộ.

    Liều lượng – Cách dùng

    Liều thông thường từ 1 đến 2 viên/ngày, chia 2 lần cách khoảng đều nhau. Nếu điều trị dài hạn trên 1 năm, cần tham khảo Thận trọng lúc dùng.
    Quá liều
    Trường hợp ngộ độc do vô tình hay cố ý dùng thuốc quá liều, có thể xảy ra:
    Tim đập nhanh và hạ huyết áp.
    Thở nhanh với nhiễm kiềm hô hấp.
    Xử lý
    Rửa dạ dày.
    Điều trị triệu chứng các rối loạn quan sát được, theo dõi tim-hô hấp và đo khí liên tục.

    Chống chỉ định:

    Không phối hợp với IMAO.

    Tác dụng phụ:

    Hiếm khi ghi nhận có những tác dụng phụ như:

    Sụt cân, rối loạn thần kinh ngoại biên với các cảm giác bất thường ở chi dưới hoặc bị dị cảm (cảm giác kim châm, kiến bò, tê…). Các tác dụng này thường xảy ra khi điều trị kéo dài trên 1 năm ; khi gặp những trường hợp này cần phải ngưng điều trị (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).

    Buồn nôn, có cảm giác nóng và nặng thượng vị, khó tiêu, rối loạn nhu động ruột, rối loạn giấc ngủ kiểu mất ngủ, ngủ gật, kích động, lo âu, đánh trống ngực, cảm giác chóng mặt.

    Chú ý đề phòng:

    Nếu có cảm giác kiến bò, kim châm hoặc tê ở các chi dưới xuất hiện và dai dẳng cũng như giảm cân trên 5%, cần phải ngưng điều trị.

    Các dấu hiệu này xuất hiện khi điều trị k o dài, sau đó sẽ giảm dần và biến mất khi ngưng điều trị. Rất hiếm khi xảy ra rối loạn thần kinh ngoại biên : tỉ lệ xuất hiện là 5 trường hợp trên 100.000 tháng điều trị, trường hợp này cần phải ngưng điều trị.

    Không được phối hợp Duxil với các thuốc khác có chứa almitrine (như Vectarion).

    Không được kê toa vượt quá liều khuyến cáo.

    Ở bệnh nhân cao huyết áp, song song với điều trị bằng Duxil, cần duy trì việc điều trị chuyên biệt bệnh cao huyết áp.

    Có thai

    Không nên dùng Duxil cho phụ nữ mang thai, đặc biệt là trong các tháng đầu thai kỳ, ngoại trừ khi có chỉ định của bác sĩ, trường hợp này lợi ích của việc điều trị phải cao hơn những nguy cơ có thể xảy ra.

    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Duxil và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Duxil bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Trivastal Retard

    Thuốc Trivastal Retard

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Trivastal Retard công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Trivastal Retard điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Trivastal Retard ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Trivastal Retard

    Trivastal Retard
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên bao phóng thích chậm-50mg
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Piribedil
    Hàm lượng:
    50mg
    SĐK:VN-3075-07
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký:
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Điều trị bệnh Parkinson:
    Dùng đơn trị liệu (điều trị các dạng bệnh, trong đó triệu chứng run là chủ yếu).
    Hoặc dùng kết hợp với liệu pháp dopamine ngay từ khi khởi trị hoặc kết hợp bước hai, đặc biệt trên các dạng bệnh kèm triệu chứng run.
    DƯỢC LỰC HỌC:
    Nhóm dược lí điều trị: CHẤT CHỦ VẬN DOPAMINE.
    Mã ATC: N04BC08.
    Peribedil là chất chủ vận Dopamine ( kích thích thụ thể dopa-mine và các đường dẫn truyền dopamine ở não).
    Ở người, cơ chế tác động được chứng minh bởi các nghiên cứu lâm sàng:
           Kích thích sự điện sinh ở não kiểu “dopamine” cả khi thức và khi ngủ.
           Hoạt tính lâm sàng đối với những chức năng khác nhau kiểm soát bởi dopamine, hoạt tính này được chứng minh qua việc dùng các thang điểm đánh giá hành vi và tâm thần.
    Hơn nữa, piripedil làm tăng lưu lượng máu ở đùi ( sự hiện diện các thụ thể dopaimine ở hệ thống mạch máu ở đùi giải thích được tác dụng của piribedil trên tuần hoàn ngoại vi).
    DƯỢC ĐỘNG HỌC:
    Piribedil được hấp thu nhanh.
    Nồng độ tối đa đạt được piribedil là 1 giờ.
    Nồng độ trong máu giảm theo 2 pha: Pha đầu tiên có thời gian bán thải là 1,7 giờ, pha thứ 2 chậm hơn, thời gian bán thải là 6,9 giờ.
    Piribedil chuyển hóa mạng với 2 chất chuyển hóa chính: Một dẫn chất hydroxyl hóa và  một dẫn chất dihydroxyl hóa.
    Piribedil được bài xuất chủ yếu qua nước tiểu: 68% Piribedil hấp thu được bài xuất qua thận dưới dạng chất chuyển hóa, 25% bài xuất qua mật.
    Viên chứa 50mg piribedil phóng thích chậm cho phép hoạt chất được hấp thu và giải phóng dần trong cơ thể.
    Các nghiên cứu dược động học tiến hành trên người cho thấy hiệu lực trị liệu kéo dài 24 giờ.
    50% lượng thuốc được bài xuất qua nước tiểu vào giờ thứ 24 và toàn bộ lượng thuốc sẽ được bài xuất sau 48 giờ.

    Liều lượng – Cách dùng

    Dùng đường uống
    Điều trị bệnh Parkinson:
    Trong đơn trị liệu: liều từ 150 mg đến 250 mg, nghĩa là từ 3 đến 5 viên mỗi ngày, chia làm 3 đến 5 lần trong ngày.
    Trong điều trị phụ trợ cho liệu pháp dopa (dopatherapy), liều từ 80 mg đến 140 mg (khoảng 20 mg piribedil cho 100mg L.Dopa). Nếu có loại liều chia nhỏ, viên chứa 20 mg piribedil sẽ phù hợp hơn.
    Uống nguyên viên thuốc với nửa cốc nước, không được nhai, uống thuốc vào cuối bữa ăn
    Trong trường hợp cần tăng dần liều để đạt được liều điều trị: cứ 3 ngày , dùng tăng thêm 1 viên.
    Chưa có dữ liệu về điều trị cho trẻ em.
    Liều dùng riêng cho từng cá nhân và do bác sĩ chỉ định
    Thời gian điều trị:
    Tuân thủ theo toa của bác sĩ.
    Không được tự động ngưng thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ.
    THẬN TRỌNG:
    Nên dùng thuốc vào cuối bữa ăn
    LUÔN PHẢI TUÂN THỦ THEO TOA CỦA BÁC SĨ
    THUỐC NÀY ĐƯỢC CUNG CẤP HOẶC KÊ TOA CHỈ CHO RIÊNG TÌNH TRẠNG CỦA BẠN
    KHÔNG ĐƯỢC ÁP DỤNG CHO CÁC TRƯỜNG HỢP KHÁC
    KHÔNG ĐƯỢC GIỚI THIỆU CHO NGƯỜI KHÁC

    Chống chỉ định:


    Tiền sử dị ứng với piribedil, hoặc bất cứ thành phần nào của tá dược.

    Sốc tim mạch

    Nhồi máu cơ tim cấp

    Kết hợp với:

    Thuốc an thần chống nôn.

    Thuốc an thần, chống loạn thần ( ngoại trừ clozapine)

    Tác dụng phụ:

    Rối loạn dạ dày ruột.

    Rối loạn tâm thần.

    Rối loạn ham muốn.

    Rối loạn về mạch.

    Chú ý đề phòng:

    Khả năng sinh sản:

    Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra tác động có hại trực tiếp hoặc gián tiếp trên sự phát triển của phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ, sự phát triển sau sinh.

    Có thai

    Thuốc này đã được chứng minh có đi qua nhau thai và phân bố trên bào thai chuột.

    Do thiếu dữ liệu có liên quan nên việc dùng thuốc này trong thời kỳ mang thai không được khuyến cáo.

    Cho con bú:

    Do thiếu dữ liệu có liên quan nên việc dùng thuốc này trong thời kỳ cho con bú không được khuyến cáo.

    LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC:

    Dùng Trivastal có thể gặp những cơn buồn ngủ hoặc buồn ngủ bất chợt. Trong trường hợp này tuyệt đối không lái xe hoặc tham gia những hoạt động cần có sự tỉnh táo vì có thể có nguy cơ gây tai nạn nghiêm trọng hoặc tử vong cho bản thân và người khác ( ví dụ đang vận hành máy móc) cho đến khi các dấu hiệu này biến mất.

    NHỮNG TÁ DƯỢC CÓ THỂ GÂY NGUY CƠ CHO NGƯỜI SỬ DỤNG:

    Đường surcrose và phẩm đỏ.

    Bảo quản:

    Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

    Không được dùng quá hạn sử dụng ghi ngoài vỏ hộp

    Bảo quản : Dưới 30°C

    Tiêu chuẩn: của nhà sản xuất

    Thông tin thành phần Piribedil

    Dược lực:

    Thuốc gây giãn mạch ngoại biên. Thuốc chống liệt rung (bệnh Parkinson).

    Dược động học :

    Piribedil được hấp thu nhanh chóng.

    Piribedil đạt nồng độ tối đa trong máu sau khi uống thuốc 1 giờ.

    Nồng độ thuốc trong máu giảm theo hai pha: pha đầu tiên có thời gian bán hủy là 1,7 giờ và pha thứ hai chậm hơn có thời gian bán hủy là 6,9 giờ.

    Piribedil được chuyển hóa mạnh với hai chất chuyển hóa chính (một là dẫn xuất hydroxyl và một là dẫn xuất dihydroxyl).

    Piribedil được đào thải chủ yếu theo nước tiểu. 68% piribedil hấp thu được bài tiết qua thận dưới dạng các chất chuyển hóa và 25% được đào thải qua mật.

    Viên nén Trivastal retard 50mg có đặc tính phóng thích chậm, do đó cho phép hoạt chất được giải phóng và hấp thu một cách từ từ (in vivo); các nghiên cứu dược động thực hiện trên người cho thấy rằng hiệu lực điều trị của thuốc kéo dài trên một ngày đêm. Sau 24 giờ, lượng thuốc được đào thải qua nước tiểu là 50% và được đào thải hoàn toàn sau 48 giờ.

    Tác dụng :

    Piribedil là chất chủ vận dopamine, có tác dụng kích thích các thụ thể dopamine và các đường dẫn truyền dopamine lực ở não.

    Ở người: cơ chế tác động kích thích dopamine của piribédil được chứng minh qua các nghiên cứu dược lý học lâm sàng. Qua điều trị với piribédil, người ta đã ghi nhận: thuốc gây kích thích sinh điện ở vỏ não kiểu “dopamine lực”, lúc thức cũng như lúc ngủ; thuốc có tác động lâm sàng trên các chức năng khác nhau được kiểm soát bởi dopamine, tác động này được chứng minh nhờ sử dụng thang điểm đánh giá hành vi hay khả năng tâm thần.

    Mặt khác, piribédil làm tăng lưu lượng máu ở đùi (sự hiện diện của các thụ thể dopamine trong hệ thống mạch máu ở đùi cho phép giải thích tác động của piribédil trên tuần hoàn ngoại biên).

    Chỉ định :

    – Ðiều trị bổ sung các triệu chứng suy giảm bệnh lý về nhận thức và thần kinh giác quan mạn tính (ngoại trừ sự sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer)

    – Ðiều trị bổ sung chứng khập khễnh cách hồi trong bệnh động mạch tắc nghẽn mạn tính ở các chi dưới (giai đoạn 2).

    Ghi chú: chỉ định này dựa trên các nghiên cứu chứng tỏ rằng có sự cải thiện về chiều dài khoảng cách đi bộ.

    – Ðiều trị bệnh liệt rung (Parkinson):

    + Hoặc được chỉ định dùng đơn độc (điều trị dạng bệnh có run là triệu chứng chủ yếu),

    + Hoặc được chỉ định dùng phối hợp với levodopa, dùng ngay từ đầu hoặc về sau, đặc biệt trong dạng run rẩy.

    – Ðược đề nghị trong các biểu hiện thiếu máu cục bộ trong nhãn khoa.

    Liều lượng – cách dùng:

    Trong rối loạn nhận thức và thần kinh giác quan do tuổi tác; đau cách hồi hay thiếu máu võng mạc cục bộ:

    1 viên/ngày vào cuối bữa ăn chính, hoặc 2 viên/ngày, chia làm 2 lần (trường hợp nặng).

    Bệnh liệt rung (Parkinson):

    – Ðiều trị đơn độc: 150-250mg/ngày, chia làm 3-5 lần, mỗi lần 1 viên.

    – Bổ sung cho liệu pháp lévodopa: 80-140mg/ngày, chia làm 3-5 lần (theo tỉ lệ 50mg piribédil cho 250mg lévodopa).

    Cách dùng: Uống thuốc với nửa ly nước vào cuối các bữa ăn, không được nhai viên thuốc.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn cảm với piribedil.

    Shock do tim.

    Nhồi máu cơ tim cấp.

    Tác dụng phụ

    – Một số rối loạn nhẹ đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn mửa, đầy hơi), các rối loạn này có thể tự khỏi sau khi điều chỉnh lại liều cho thích hợp với từng bệnh nhân.

    – Hiếm hơn, có thể xảy ra một số rối loạn tâm thần như lú lẫn hay dễ bị kích động, các triệu chứng này sẽ tự khỏi khi ngưng điều trị.

    – Hãn hữu, có thể xảy ra rối loạn về huyết áp (hạ huyết áp tư thế), hoặc huyết áp không ổn định.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Trivastal Retard và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Trivastal Retard bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Arcalion

    Thuốc Arcalion

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Arcalion công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Arcalion điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Arcalion ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Arcalion

    Arcalion
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên bao-200mg
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên, hộp 4 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Sulbutiamine
    Hàm lượng:
    200mg
    SĐK:VN-3076-07
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký:
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – Cách dùng

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày. Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định:

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ:

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi. Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.

    Thông tin thành phần Sulbutiamine

    Dược lực:

    Sulbutiamine là một phân tử đặc biệt, kết quả của quá trình biến đổi cấu trúc của nhân thiamine: thành lập cầu nối disulfure, gắn thêm một nhánh ester ưa lipide, mở vòng thiazole. Các biến đổi này đưa đến:

    – Khả năng hòa tan trong lipide làm cho thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và cho phép qua được hàng rào máu-não;

    – Tính hướng thần kinh chuyên biệt trên hệ thống lưới, sừng Ammon và thể hình trứng, cũng như trên các tế bào Purkinje và tiểu cầu của lớp hạt vỏ tiểu não, được xác nhận bằng phương pháp nhuộm mô huỳnh quang, trong khi thiamine ở cùng điều kiện thì không bắt huỳnh quang nào cả.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Sulbutiamine được hấp thu nhanh, và đạt được nồng độ tối đa trong máu sau khi uống thuốc từ 1 đến 2h. Nồng độ trong máu sau đó giảm theo hàm số mũ.

    Phân bố:

    Thuốc được phân tán nhanh trong cơ thể.

    Thải trừ:

    Sulbitiamine được đào thải với thời gian bán hủy trong khoảng 5h, đào thải tối đa qua thận từ hai đến ba giờ sau khi uống thuốc.

    Tác dụng :

    Trên động vật:

    – Dùng Sulbutiamine cho phép cải thiện rất rõ sự phối hợp vận động và chống lại sự mệt mỏi ở cơ, chủ yếu trong các khảo sát có sử dụng thuốc an thần kinh làm suy giảm hệ vận động;

    – Ở vỏ não, Sulbutiamine cải thiện sự chịu đựng của vỏ não đối với việc giảm oxy mô lặp đi lặp lại nhiều lần. Mặt khác, Sulbutiamine cũng làm tăng trạng thái tỉnh táo ở động vật;

    – Ðã ghi nhận thuốc có hiệu lực tốt trên sự hình thành vận động và ghi nhớ trong các khảo sát về rèn luyện ở động vật;

    Trên người: Sulbutiamine đã được nghiên cứu trên lâm sàng so sánh với placebo hoặc sản phẩm tham khảo bằng cách sử dụng các khảo sát và dùng thang đánh giá tâm thần. Các khảo sát này cho thấy Sulbutiamine có hiệu lực chủ động trên tâm thần với tác động ưu thế trên sự ức chế tâm thần và ức chế thể lực.

    Chỉ định :

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.

    Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – cách dùng:

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày.

    Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định :

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi.

    Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Arcalion và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi không chấp nhận trách nhiệm nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Arcalion bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Stablon

    Thuốc Stablon

    Stablon

    Stablon
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao đường

    Thành phần:

    Tianeptine sodium 12,5 mg
    SĐK:VN-22165-19
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Chỉ định trong các trạng thái trầm cảm nhẹ, vừa và nặng.

    Dược lực:
    Tianeptine là thuốc chống trầm cảm.
    Trên động vật, tianeptine có các đặc tính sau:
    Làm tăng tính tự phát của tế bào tháp ở hồi hải mã và làm cho chức năng này được hồi phục nhanh sau khi bị ức chế.
    Làm tăng tốc độ thu hồi serotonine của các tế bào thần kinh ở vỏ não và hồi hải mã.
    Trên người, tianeptine mang những đặc trưng sau:
    Tác động lên các rối loạn khí sắc, được xếp ở giữa hai nhóm thuốc chống trầm cảm gây êm dịu và thuốc chống trầm cảm gây hưng phấn.
    Tác động tốt trên những bệnh nhân có những than phiền về cơ thể, nhất là những than phiền về rối loạn tiêu hóa có nguyên nhân do sự lo âu và các rối loạn khí sắc.
    Mặt khác tianeptine không ảnh hưởng lên:
    Giấc ngủ và sự tỉnh táo.
    Hệ cholenergic (không có những biểu hiện kiểu kháng cholinergic).

    Dược động học:
    Hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hóa.
    Phan bố nhanh, khả năng gắn kết cao với protein (vào khoảng 94%). Chuyển hóa mạnh ở gan qua tiến trình oxy hóa ở vị trí be6ta và loại gốc methyl ở nitơ.
    Thời giab bán thải ngắn khoảng 2 giờ 30 phút, bài tiết chủ yếu qua thận dưới dạng chất chuyển hóa.
    Ở người cao tuổi: Các nghiên cứu dược động học được thực hiện ở người già trên 70 tuổi và điều trị dài hạn cho thấy thời gian bán thải tăng thêm 1 giờ.
    Ở bệnh nhân suy gan: các nghiên cứu cho thấy rượu có ảnh hưởng không đáng kể lên các thông số dược động học của bệnh nhân nghiện rượu kinh niên, ngay cả khi kèm xơ gan.
    Ở bệnh nhân suy thận: các nghiên cứu cho thấy thời gian bán thải thêm 1 giờ.

    Liều lượng – Cách dùng

    Liều trung bình là 3 viên mỗi ngày, uống ngay trước bữa sáng, bữa trưa và bữa tối. Uống với nước.
    Ở những bệnh nhân trên 70 tuổi, và có kèm suy giảm chức năng thận. Liều dùng không được vượt quá 2 viên mỗi ngày Không được ngừng dùng thuốc này nếu không hỏi ý kiến bác sĩ.
    Theo đúng thời gian điều trị do bác sĩ chỉ định.
    Trong bất kì tình huống nào, không được kéo dài điều trị mà không được bác sĩ cho phép.
    BAO GIỜ CŨNG CẦN TUÂN THỦ NGHIÊM TÚC ĐƠN CỦA BÁC SĨ.
    QUÁ LIỀU:
    Trong mọi trường hợp, dừng điều trị và theo dõi sát bệnh nhân
    Rửa dạ dày
    Theo dõi tim mạch, ho hấp, chuyển hóa, tiết niệu.
    Điều trị triệu chứng của bất kỳ biểu hiện quá liều trên lam sàng, đặc biệt cần giúp đỡ thông khí và điều chỉnh các rối loạn trên chuyển hóa và trên thận.

    Chống chỉ định:

    Dị ứng (quá mẫn cảm) với tianeptine hoặc với bất cứ thành phần nào của Stablon.

    Trẻ em dưới 15 tuổi.

    Trường hợp có thai hoặc cho con bú.

    Kết hợp với nhóm MAOI.

    Tương tác thuốc:

    Dùng thuốc này phối hợp với một số thuốc thuộc nhóm ức chế monoamin oxydase (MAOI, chỉ định trong trường hợp trầm cảm) có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Sau khi điều trị với MAOI, cần chờ 2 tuần trước khi uống Stablon.

    Hãy báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ nếu bạn gần đây đang dùng bất kì thuốc nào khác, kể cả thuốc không cần kê đơn.

    Tác dụng phụ:

    Đau dạ dày, đau bụng, khô miệng, chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi.

    Mất ngủ, ngủ gà, ác mộng, mệt mỏi.

    Đánh tróng ngực, đau tim, đau vùng trước tim, nhịp nhanh.

    Chóng mặt, đau đầu, khó chịu, run, nóng đỏ bừng.

    Khó thở, cảm giác có cục nghẹn ở họng.

    Đau cơ, đau lưng.

    Phát ban trên da, ngứa, nổi mày đay, nổi mụn.

    Chú ý đề phòng:

    Dùng thuốc kéo dài ở liều cao có thể dẫn đến phụ thuộc vào thuốc. Không nên vượt quá liều khuyến cáo.

    Nếu bạn đang bị trầm cảm hay rối loạn lo âu, đôi khi bạn có ý định tự làm tổn thương bản thân hoặc tự tử.

    Thuốc này có chứa đường sucrose, do đó thuốc này không được sử dụng cho những bệnh nhân không dung nạp fructose, hội chứng kém hấp thu glactose, hay thiều hụt men sucrase-isomaltase (bệnh chuyển hóa hiếm gặp).

    THẬN TRỌNG:

    Nếu phải gây mê toàn thân, cần báo cho chuyên viên gây mê là bạn đang dùng thuốc này, ngừng dùng thuốc 24 hoặc 48 giờ trước khi phẫu thuật.

    Cần báo cho bác sĩ trong trường hợp suy giảm chức năng thận.

    Không ngừng đột ngột, mà phải giảm liều trong quá trình từ 7 tới 14 ngày.

    Nếu nghi ngờ, xin đừng ngần ngại hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ.

    CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ

    Báo cho bác sĩ biết bạn mang thai hoặc đang cho con bú.

    LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC:

    Ở một số bệnh nhân, thuốc có thể làm giảm sự tỉnh táo. Vì vậy, cần lưu ý có nguy cơ buồn ngủ liên quan đến việc dùng thuốc này. Đặc biệt trong trường hợp lái xe và vận hàng máy móc

    Thông tin thành phần Tianeptine

    Dược lực:

    Tianeptine là thuốc chống trầm cảm.

    Dược động học :

    Hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hóa.

    Phân phối nhanh, gắn kết với protéine mạnh, khoảng 94%.

    Chuyển hóa mạnh ở gan qua tiến trình oxy hóa ở vị trí bêta và loại gốc méthyl ở nitơ.

    Tianeptine có thời gian bán thải ngắn khoảng 2 giờ 30, bài tiết chủ yếu qua thận dưới dạng các chất chuyển hóa, chỉ có khoảng 8% hoạt chất không bị biến đổi được thải qua nước tiểu.

    Ở người lớn tuổi: các nghiên cứu dược động học được thực hiện ở người già trên 70 tuổi và điều trị dài hạn cho thấy thời gian bán thải tăng thêm 1 giờ.

    Ở bệnh nhân suy gan: các nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng không đáng kể lên các thông số dược động học của bệnh nhân bị nghiện rượu kinh niên, ngay cả khi có kèm xơ gan.

    Ở bệnh nhân suy thận: các nghiên cứu cho thấy thời gian bán thải dài ra thêm 1 giờ.

    Tác dụng :

    Trên động vật, tianeptine có các đặc tính sau:

    – Làm tăng hoạt tính tự phát của các tế bào tháp ở hồi hải mã và làm cho chức năng này được hồi phục nhanh sau khi bị ức chế;

    – Làm tăng tốc độ thu hồi sérotonine của các tế bào thần kinh ở vỏ não và ở hồi hải mã.

    Trên người, tianeptine được đặc trưng bởi:

    – Tác động trên các rối loạn khí sắc, được xếp ở giữa hai nhóm thuốc chống trầm cảm gây êm dịu và thuốc chống trầm cảm gây hưng phấn,

    – Tác động tốt trên những bệnh nhân có những than phiền về cơ thể, nhất là những than phiền về các rối loạn tiêu hóa, có nguyên do từ sự lo âu và các rối loạn khí sắc,

    – Có hoạt tính đối với các rối loạn về tính cách và hành vi ở bệnh nhân nghiện rượu trong thời kỳ cai rượu.

    Mặt khác, tianeptine không ảnh hưởng lên:

    – Giấc ngủ và sự tỉnh táo,

    – Hệ tim mạch,

    – Hệ cholinergique (không có những biểu hiện kiểu kháng tiết choline),

    – Gây nghiện.

    Chỉ định :

    Giai đoạn trầm cảm chủ yếu (bất kể mức độ nhẹ, vừa, nặng).

    Liều lượng – cách dùng:

    Liều khuyến cáo là 1 viên, 3 lần/ngày, uống làm 3 lần vào buổi sáng, trưa và tối, vào trước các bữa ăn chính.

    – Ở bệnh nhân nghiện rượu kinh niên, có xơ gan hoặc không, không cần phải điều chỉnh liều.

    – Ở người già trên 70 tuổi, và trường hợp bệnh nhân bị suy thận, giảm còn 2 viên/ngày.

    Chống chỉ định :

    – Trẻ em dưới 15 tuổi.

    – Phối hợp với IMAO.

    Nên lưu ý chỉ bắt đầu điều trị bằng tianeptine sau khi đã ngưng IMAO 15 ngày, và bắt đầu điều trị bằng IMAO sau khi đã ngưng tianeptine 24 giờ.

    Tác dụng phụ

    Hiếm khi xảy ra, thường là nhẹ:

    – đau thượng vị, đau bụng, khô miệng, chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi,

    – mất ngủ, buồn ngủ, ác mộng, suy nhược,

    – tim đập nhanh, ngoại tâm thu, đau vùng trước ngực,

    – chóng mặt, nhức đầu, xỉu, run, nóng bừng mặt,

    – thở khó, có cảm giác cổ họng bị nghẹn,

    – đau cơ, đau cột sống.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

  • Thuốc Arcalion 200

    Thuốc Arcalion 200

    Arcalion 200

    Arcalion 200
    Nhóm thuốc: Thuốc hướng tâm thần
    Dạng bào chế:Viên nén bao đường
    Đóng gói:Hộp 2 vỉ x 15 viên

    Thành phần:

    Sulbutiamine 200 mg
    SĐK:VN-22426-19
    Nhà sản xuất: Les Laboratoires Servier Industrie – PHÁP
    Nhà đăng ký: Les Laboratoires Servier
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – Cách dùng

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày. Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định:

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ:

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi. Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.

    Thông tin thành phần Sulbutiamine

    Dược lực:

    Sulbutiamine là một phân tử đặc biệt, kết quả của quá trình biến đổi cấu trúc của nhân thiamine: thành lập cầu nối disulfure, gắn thêm một nhánh ester ưa lipide, mở vòng thiazole. Các biến đổi này đưa đến:

    – Khả năng hòa tan trong lipide làm cho thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và cho phép qua được hàng rào máu-não;

    – Tính hướng thần kinh chuyên biệt trên hệ thống lưới, sừng Ammon và thể hình trứng, cũng như trên các tế bào Purkinje và tiểu cầu của lớp hạt vỏ tiểu não, được xác nhận bằng phương pháp nhuộm mô huỳnh quang, trong khi thiamine ở cùng điều kiện thì không bắt huỳnh quang nào cả.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Sulbutiamine được hấp thu nhanh, và đạt được nồng độ tối đa trong máu sau khi uống thuốc từ 1 đến 2h. Nồng độ trong máu sau đó giảm theo hàm số mũ.

    Phân bố:

    Thuốc được phân tán nhanh trong cơ thể.

    Thải trừ:

    Sulbitiamine được đào thải với thời gian bán hủy trong khoảng 5h, đào thải tối đa qua thận từ hai đến ba giờ sau khi uống thuốc.

    Tác dụng :

    Trên động vật:

    – Dùng Sulbutiamine cho phép cải thiện rất rõ sự phối hợp vận động và chống lại sự mệt mỏi ở cơ, chủ yếu trong các khảo sát có sử dụng thuốc an thần kinh làm suy giảm hệ vận động;

    – Ở vỏ não, Sulbutiamine cải thiện sự chịu đựng của vỏ não đối với việc giảm oxy mô lặp đi lặp lại nhiều lần. Mặt khác, Sulbutiamine cũng làm tăng trạng thái tỉnh táo ở động vật;

    – Ðã ghi nhận thuốc có hiệu lực tốt trên sự hình thành vận động và ghi nhớ trong các khảo sát về rèn luyện ở động vật;

    Trên người: Sulbutiamine đã được nghiên cứu trên lâm sàng so sánh với placebo hoặc sản phẩm tham khảo bằng cách sử dụng các khảo sát và dùng thang đánh giá tâm thần. Các khảo sát này cho thấy Sulbutiamine có hiệu lực chủ động trên tâm thần với tác động ưu thế trên sự ức chế tâm thần và ức chế thể lực.

    Chỉ định :

    Ðiều trị tình trạng ức chế thể lực hoặc tâm thần với suy giảm hoạt động và trạng thái suy nhược:

    – Suy giảm thể lực, tâm lý, tình dục.

    – Mệt mỏi sau nhiễm khuẩn, trong hội chứng đại tràng kích thích.

    – Mệt mỏi, căng thẳng ở sinh viên vào mùa thi.

    Trường hợp bệnh nhân đã được xác nhận là bị trầm cảm, việc sử dụng thuốc này không thể thay cho một trị liệu chuyên biệt bằng thuốc chống trầm cảm.

    Liều lượng – cách dùng:

    1 đến 3 viên, uống một lần hoặc chia làm nhiều lần trong ngày.

    Ở người lớn, liều trung bình là 2 viên, uống một lần vào bữa ăn sáng.

    Chống chỉ định :

    Có tiền sử quá mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Ðôi khi thuốc có thể gây kích động ngầm ở người lớn tuổi.

    Một vài trường hợp có thể gây dị ứng da.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ