Thẻ: Công ty The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT

  • Thuốc Heparin-Belmed

    Thuốc Heparin-Belmed

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Heparin-Belmed công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Heparin-Belmed điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Heparin-Belmed ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Heparin-Belmed

    Heparin-Belmed
    Nhóm thuốc: Thuốc tim mạch
    Dạng bào chế:Dung dịch tiêm, truyền tĩnh mạch, tiêm dưới da
    Đóng gói:Hộp 5 lọ 5ml

    Thành phần:

    Heparin natri 5000 IU/ml
    SĐK:VN-18524-14
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Phòng và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu và huyết khối nghẽn mạch phổi.
    Điều trị hỗ trợ trong nhồi máu cơ tim và huyết khối nghẽn động mạch.
    Dự phòng tắc nghẽn trong phẫu thuật mạch máu và tim mạch.
    Dự phòng tắc mạch máu não.
    Dùng làm chất chống đông máu trong truyền máu, tuần hoàn ngoài cơ thể khi phẫu thuật, chạy thận nhân tạo và bảo quản máu xét nghiệm

    Liều lượng – Cách dùng

    Tiêm IV 5000-10000 IU mỗi 4 giờ, gián đoạn hoặc nhỏ giọt liên tục trong dung dịch NaCl hoặc Dextrose; chỉnh liều tùy theo kết quả test đông máu.
    Tiêm SC 10000 IU mỗi 8 giờ sau khi đã tiêm IV một liều 5000 IU.
    Người cao tuổi: giảm liều.
    Dự phòng: 5000 IU, tiêm SC trước khi phẫu thuật 2-6 giờ và mỗi 8-12 giờ sau phẫu thuật trong 10-14 ngày.
    Phẫu thuật tim hở:
    Phẫu thuật < 2 giờ: 120 IU/kg/giờ,
    Phẫu thuật kéo dài hơn: 180 IU/kg/giờ
    Cách dùng:
    Tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch hoặc truyền tĩnh mạch sau khi đã pha loãng

    Chống chỉ định:

    Mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc

    Các trường hợp không thể tiến hành đều đặn được các xét nghiệm về đông máu.

    Chảy máu không kiểm soát được.

    Dùng dung dịch tiêm heparin có chất bảo quản cho trẻ đẻ non

    Tương tác thuốc:

    Thận trọng phối hợp aspirin, dextran, phenylbutazon, ibuprofen, indomethacin, dipyridamol hoặc hydroxycloroquin: ảnh hưởng kết tập tiểu cầu có thể gây chảy máu.

    Digitalis, tetracyclin, thuốc kháng histamin hoặc nicotin: có thể làm giảm một phần tác dụng chống đông máu của heparin

    Tác dụng phụ:

    Xuất huyết giảm tiểu cầu, loãng xương gây gãy xương tự phát.

    Có thể xảy ra: rụng tóc nhất thời, tiêu chảy; sốt, dị ứng

    Chú ý đề phòng:

    Bệnh nhân bị chấn thương, suy thận và suy gan, có tiền sử dị ứng.

    3 tháng cuối thai kỳ, thời kỳ sau khi đẻ: tăng nguy cơ xuất huyết của mẹ.

    Thuốc chứa benzyl alcohol: không dùng cho trẻ Ngừng thuốc ngay nếu test đông máu quá kéo dài hoặc có xuất huyết

    Thông tin thành phần Heparin

    Dược lực:

    Heparin là thuốc chống đông máu.

    Dược động học :

    -Hấp thu: Heparin không hấp thu qua đường tiêu hoá nên phải tiêm tĩnh mạch, tiêm truyềntĩnh mạch, tiêm dưới da.

    – Phân bố: Heparin liên kết rộng rãi với lipoprotein huyết tương, không qua nhau thai và sữa mẹ.

    Tác dụng :

    Heparin nội sinh bình thường gắn với protein, là chất chống đông máu có tính acid mạnh.Thuốc có tác dụng chống đông máu cả trong và ngoài cơ thể thông qua tác dụng lên antithrombin III ( kháng thrombin ). Chất này có trong huyết tương, làm mất hiệu lực của thrombin và các yếu tố đông máu đã hoạt hoá IXa, Xa, XIa, XIIa. Heparin tạo phức với antithrombin III làm thay đổi cấu trúc phân tử antithrombin III ( làm cho dễ kết hợp với thrombin ). Phức hợp này thúc đẩy nhanh phản ứng antithrombin III – thrombin ( và cả các yếu tố kể trên). Kết quả là các yếu tố đông máu trên bị mất tác dụng, do đó sự chuyển fibrinogen thành fibrin và prothrombin thành thrombin không được thực hiện.

    Các tác dụng này ngăn chặn cục huyết khối đã hình thành lan rộng. Để chống đông máu, heparin đòi hỏi phải có đủ mức antithrombin III trong huyết thanh. Thiếu hụt yếu tố đông máu như trong bệnh gan, đông máu rải rác nội mạch, có thể cản trở tác dụng chống đông máu của heparin. Heparin không có hoạt tính tiêu fibrin.

    Chỉ định :

    Huyết khối tĩnh mạch (viêm tĩnh mạch), thuyên tắc mạch máu phổi, huyết khối động mạch (nhồi máu cơ tim) & các biểu hiện huyết khối nghẽn mạch khác. Ngừa tai biến thuyên tắc huyết khối.

    Liều lượng – cách dùng:

    Tiêm tĩnh mạch. 400-600 IU/kg/24 giờ, cho người lớn & trẻ em, chia làm nhiều lần, tốt nhất là mỗi 2 giờ hoặc tiêm truyền. Người già: giảm nửa liều.

    Chống chỉ định :

    Quá mẫn với heparin. Tiền sử giảm tiểu cầu khi dùng heparin hoặc pentosane. Khuynh hướng chảy máu. Tổn thương cơ quan có khả năng chảy máu. Viêm nội tâm mạc. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn cấp. Xuất huyết não.

    Tác dụng phụ

    Biểu hiện xuất huyết. Giảm tiểu cầu. Bướu máu. Tăng bạch cầu ái toan. Loãng xương. Dị ứng da. Tăng men gan. Hiếm: rụng tóc, cương đau dương vật.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Heparin-Belmed và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Heparin-Belmed bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Cytarabine-Belmed

    Thuốc Cytarabine-Belmed

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Cytarabine-Belmed công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Cytarabine-Belmed điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Cytarabine-Belmed ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Cytarabine-Belmed

    Cytarabine-Belmed
    Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
    Dạng bào chế:Dung dịch tiêm
    Đóng gói:Hộp 5 ống x5 ml

    Thành phần:

    Cytarabin 100mg/5ml
    SĐK:VN2-580-17
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Liều quy ước bạch cầu dòng hạt cấp; bạch cầu nguyên lymphô bào cấp, bạch cầu nguyên tuỷ bào cấp; tiêm vào khoang nhện để ngừa và trị thâm nhiễm ở TKTW, u lymphô bào an toả. Liều cao: bạch cầu dòng hạt cấp kháng trị, bạch cầu nguyên tuỷ bào mạn chuyển cấp, bạch cầu tái phát, có nguy cơ cao, thứ phát sau hoá trị hay xạ trị, chuyển dạng tiền bạch cầu, u lymphô không Hodgkin kháng trị.

    Liều lượng – Cách dùng

    Làm thuyên giảm trong bệnh bạch cầu cấp: 100 mg/m2/ngày, truyền IV liên tục x 5 – 10 ngày. Thuyên giảm duy trì 70 – 200 mg/m2/ngày, tiêm IV hoặc SC x 5 ngày mỗi 4 tuần hoặc 1 lần/tuần. U Lymphô bào không Hodgkin người lớn dùng trong đa trị liệu, trẻ em: tùy theo týp bệnh. Liều cao 1 – 3 g/m2 truyền IV trong 1 – 3 giờ, cách quãng 12 giờ x 4 – 6 ngày. Tiêm vào khoang nhện: 5 – 30 mg/m2 1 lần từng 2 – 7 ngày.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần của thuốc. Giảm tế bào máu có bệnh căn không ác tính. Suy gan và/hoặc suy thận nặng, loét dạ dày – ruột, vừa phẫu thuật. Có thai và cho con bú. Người trên 60 tuổi.

    Tương tác thuốc:

    Các thuốc độc tế bào, xạ trị. La-asparaginase. Flucytasine.

    Tác dụng phụ:

    Suy tủy, giảm các dòng tế bào máu. Hội chứng tiết không đủ hormon kháng niệu. Giảm Ca máu, tăng acid uric máu. Rối loạn TKTW, thị giác, tim, hô hấp, lồng ngực, trung thất, tiêu hóa và gan mật, da và mô dưới da, cơ xương khớp, thận niệu.

    Chú ý đề phòng:

    Kiểm tra thường xuyên công thức máu, acid uric máu, chức năng thận, TKTW, hô hấp.

    Thông tin thành phần Cytarabine

    Dược lực:

    Cytarabine là một chất chống chuyển hóa.

    Mặc dù cơ chế chưa được hiểu biết đầy đủ , dường như cytarabine tác động thông qua việc ức chế DNA polymerase. Cytarabine chỉ thâm nhập giới hạn vào DNA và RNA nhưng có tác dụng quan trọng.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Cytarabine không hiệu quả khi uống; ít hơn 20% liều thuốc được hấp thu vào đường tiêu hóa.

    Có thể đạt được mức độ tương đối hằng định trong huyết tương bằng sau khi tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Cytarabine, nồng độ phóng xạ trong huyết tương lên đến mức đỉnh trong vòng 20-60 phút và thấp hơn nhiều so với đường tĩnh mạch. Nồng độ cytarabine trong huyết tương các bệnh nhân nhận cùng một liều thuốc rất khác nhau. Một số nghiên cứu cho rằng sự khác biệt này liên quan tới đáp ứng lâm sàng. Nồng độ trong huyết tương cao liên đới với sự thuyên giảm về mặt huyết học.

    Phân phối:

    Với nồng độ điều trị đạt được trong huyết tương là 0,005-1,0mg/l; 13,3% cytarabine trong huyết tương kết hợp với protein. Tỷ lệ thuốc kết hợp không lệ thuộc vào nồng độ trong giới hạn điều trị của thuốc.

    Thực nghiệm với liều 2 hay 3g/cm2 bằng đường tĩnh mạch mỗi 12 giờ cho thấy thuốc đi vào hệ thần kinh trung ương một lượng lớn, sự phân cytarabine trong màn cứng, đi qua màng nhện và có thể cả nhu mô não tốt hơn dùng liều chuẩn tiêm trong vỏ. Trên bệnh nhân dùng liều chuẩn liên tục bằng đường tiêm dưới da và truyền tĩnh mạch, nồng độ thuốc trong dịch não tủy không đổi theo nhịp độ truyền.

    Biến đổi sinh học:

    Cytarabine được chuyển hóa bởi deoxycytidine kinase và những nucleotide kinase khác thành nucleotide triphosphate, một chất có tác dụng ức chế DNA polymerase. Cytarabine được hoàn nguyên dạng hoạt động bằng sự phosphoryl hóa trong nguyên bào leukemia và tủy xương bình thường. Cytarabine nhanh chóng bị khử amin bởi cytidine deaminase thành thành uracil arabinoside (1-b-D-arabinofuranosyluracil) không hoạt động. Quá trình này xảy ra chủ yếu ở gan, còn có trong máu và những mô khác ở mức độ ít hơn. Dường như sự cân đối giữa nồng độ kinase và deaminase là yếu tố quan trọng xác định tính nhạy cảm hay đề kháng của tế bào đối với cytarabine.

    Bài tiết:

    Sau khi tiêm tĩnh mạch nhanh Cytarabine, thuốc được đào thải khỏi huyết tương theo hai pha. Ðầu tiên là pha phân phối có thời gian bán hủy khoảng 10 phút, sau đó là pha thải trừ có thời gian bán hủy từ 1 đến 3 giờ.

    Trong 24 giờ khoảng 80% chất phóng xạ có thể tìm thấy lại trong nước tiểu, trong đó 1-beta-D-arabinofuranosyluracil chiếm gần 90%.

    Tác dụng :

    Cytarabin (Ara-C), chất tương tự desoxycytosin nucleosid là một chất chống chuyển hoá. Cytarabin có tác dụng hoá trị liệu chống ung thư thông qua cơ chế đặc hiệu với pha S của quá trình phân chia tế bào hoạt động ( không có tác dụng trên pha nghỉ ) và ức chế tổng hợp DNA kèm theo tác dụng kìm hãm hoặc diệt tế bào ung thư. Thuốc có tác dụng rất ít trên RNA và quá trình tổng hợp protein. Không thấy có hiện tượng kháng chéo giữa Cytarabin và các thuốc chống ung thư khác. Cytarabin liều cao được dùng để điều trị bệnh bạch cầu khi dùng liều bình thường đã có tình trạng kháng thuốc tương đối.

    Chỉ định :

    Giảm nhẹ và duy trì tình trạng này cho cả người lớn và trẻ em mắc bệnh bạch cầu cấp tính không thuộc dòng lymphô. Thuốc cũng có ích trong việc điều trị bệnh bạch cầu khác, như là bệnh bạch cầu cấp tính dòng lymphô, bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy dòng tủy (giai đoạn nguyên bào). Có thể dùng Cytarabine đơn độc hay phối hợp với các chất chống ung thư khác những kết quả tốt nhất thường do trị liệu phối hợp. Nếu không điều trị duy trì thì sự thuyên giảm do Cytarabine chỉ thoáng qua. Thuốc đã được thực nghiệm trong nhiều bệnh ung thư khác nhau. Nói chung, thuốc có tác dụng trên một số ít bệnh nhân có khối u chắc. Một chương trình phối hợp thuốc với Cytarabine có ích cho trẻ em có u lymphô không phải Hodgkin. Cytarabine truyền tĩnh mạch liều cao 2-3g/m2 từ 1-3 giờ mỗi 12 giờ trong 2-6 ngày, kèm theo chất hóa trị liệu ung thư hoặc không, có hiệu quả điều trị đối với bệnh bạch cầu nhẹ, bệnh bạch cầu kháng thuốc và bệnh bạch cầu tái phát cấp tính.

    Dùng Cytarabine đơn độc hay phối hợp với thuốc khác (methotrexate, hydrocortisone sodium succinate) tiêm trong vỏ để phòng ngừa hay điều trị bệnh bạch cầu màng não.

    Liều lượng – cách dùng:

    Cytarabine không có tác dụng khi uống. Phác đồ và cách sử dụng thay đổi theo chương trình trị liệu. Có thể truyền hay tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da hoặc trong vỏ.

    Khi được tiêm mạch nhanh bệnh nhân có thể dung nạp thuốc ở liều cao hơn so với truyền tĩnh mạch chậm. Hiện tượng này là do tính gây bất hoạt nhanh chóng của thuốc và sự phơi nhiễm ngắn ngủi của các tế bào bình thường và ung thư nhạy cảm với nồng độ thuốc cao sau khi tiêm nhanh. Dường như tế bào bình thường và tế bào ung thư đáp ứng gần giống nhau đối với những cách sử dụng này và ưu thế điều trị không biểu hiện một cách dứt khoát.

    Trong liệu pháp gây cảm ứng với bệnh bạch cầu cấp tính không thuộc dòng lymphô, liều cytarabine thường dùng phối hợp với thuốc chống ung thư khác là truyền tĩnh mạch liên tục 100mg/m2 mỗi ngày (ngày 1-7) hoặc tiêm tĩnh mạch 100mg/m2 mỗi 12 giờ (ngày 1-7).

    Trong bệnh bạch cầu cấp tính dòng lymphô phải tham khảo y văn về những khuyến cáo hiện hành.

    Dùng đường trong vỏ ở bệnh bạch cầu màng não:

    Cytarabine được dùng tiêm trong vỏ cho bệnh bạch cầu cấp với liều từ 5mg/m2 đến 75mg/m2 bề mặt cơ thể. Cách tiêm thay đổi từ một lần mỗi ngày trong 4 ngày đến một lần mỗi 4 ngày, liều thường dùng nhất là 30mg/m2 mỗi 4 ngày cho đến khi xét nghiệm dịch não tủy bình thường, kế đến là một điều trị bổ sung. Phác đồ này thường được quyết định tùy theo kiểu biểu hiện và độ trầm trọng của triệu chứng thần kinh trung ương cũng như đáp ứng với điều trị trước đó.

    Cytarabine được tiêm trong vỏ với hydrocorytisone sodium succinate và methotrexate để trị liệu phòng ngừa ở trẻ mới được chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp dòng tủy, cũng như trong điều trị bệnh bạch cầu màng não.

    Sullivan đã báo cáo liệu pháp ba thuốc phòng ngừa này ngăn chận được bệnh thần kinh trung ương về sau, liệu pháp này còn cho sự trị liệu toàn diện và tỷ lệ sống sót tương tự nhóm bệnh nhân được phòng ngừa bằng xạ trị thần kinh trung ương và tiêm trong vỏ methotrexate.

    Liều Cytarabine là 30mg/m2,Hydrocortisone sodium succinate 15mg/m2, và methotrexate 15mg/m2. Bác sĩ cần phải đọc bài báo cáo này trước khi bắt đầu điều trị.

    Liệu pháp ba thuốc phòng ngừa cũng hữu ích tiếp sau điều trị thành công giai đoạn màng não cấp tính. Bác sĩ phải tự tra cứu y văn hiện hành trước khi thực hiện một chương trình như vậy.

    Dùng cho trẻ em:

    Sử dụng Cytarabine trên trẻ em tương tự sử dụng trên người lớn.

    Pha thuốc:

    Cytarabine chủ yếu được pha thành dung dịch dùng một lần.

    Khi pha chế để sử dụng nhiều lần, chất pha loãng phải có chứa chất bảo quản.

    Bột Cytarabine vô trùng có thể được hòa tan trong nước để tiêm 0,9% sodium chloride hay 5% glucose trong nước có chứa hoặc không chứa chất bảo quản.

    Ðể tiêm trong vỏ thì đề nghị dùng 0,9% sodium chloride không chất bảo quản.

    Nồng độ tối đa có thể đạt được sau khi pha loãng là 100mg/ml. Ðể có được dung dịch 100mg/ml một cách chính xác phải thêm vào thể tích sau đây:

    4,7ml thêm: 500mg Cytarabine

    9,4ml thêm: 1g Cytarabine

    18,7ml thêm: 2g Cytarabine

    Chống chỉ định :

    Cytarabine có chống chỉ định cho bệnh nhân mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Những phản ứng định trước:

    Vì Cytarabine là chất ức chế tủy xương, hậu quả định trước của việc sử dụng thuốc là thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, tăng nguyên hồng cầu khổng lồ và giảm hồng cầu lưới. Mức độ các phản ứng này phụ thuộc liều lượng và phác đồ. Có thể tiên đoán được những thay đổi về hình dạng tế bào trong tủy xương và phết màu ngoại biên.

    Sau năm ngày truyền tĩnh mạch hoặc tiêm từ 50mg/m2 đến 600mg/m2, sự ức chế bạch cầu trải qua hai giai đoạn. Không tính số đếm ban đầu, liều lượng, hay phác đồ, bạch cầu bắt đầu giảm trong 24 giờ đầu tiên tới điểm thấp nhất vào ngày 7-9. Sau đó thoáng tăng lên với đỉnh vào khoảng ngày 12. Lần thứ 2 giảm nhiều tới điểm thấp nhất vào ngày 15-24. Trong 10 ngày tiếp sau nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản. Sự ức chế tiểu cầu thấy được vào ngày 5 với đỉnh thấp nhất vào giữa ngày 12-15. Trong 10 ngày tiếp theo nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản.

    Biến chứng nhiễm trùng:

    Nhiễm siêu vi, vi khuẩn, vi nấm, ký sinh trùng hay nhiễm vi sinh vật hoại sinh, ở bất cứ vị trí nào của cơ thể, có thể liên quan đến việc sử dụng Cytarabine đơn độc hoặc phối hợp với chất ức chế miễn dịch khác theo sau liều ức chế miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Những nhiễm trùng này có thể nhẹ, có thể nặng và có khi gây tử vong.

    Hội chứng Cytarabine:

    Hội chứng Cytarabine đã được mô tả. Ðặc điểm của nó là sốt, đau cơ, đau xương, thỉnh thoảng đau ngực, nổi ban dát sẩn, viêm kết mạc và mệt mỏi. Thường xuất hiện 6-12 sau khi dùng thuốc. Corticosteroid hữu ích để trị hay ngừa hội chứng này. Nếu nghĩ rằng triệu chứng có thể chữa được, cần phải nghĩ đến corticosteroid cũng như tiếp tục trị liệu với Cytarabine.

    Những phản ứng thường xảy ra nhất:

    Chán ăn, rối loạn chức năng gan, buồn nôn, ôn mửa, tiêu chảy, sốt, nổi ban, viêm tắc tĩnh mạch, viêm hay loét miệng và hậu môn.

    Buồn nôn và nôn thường xảy ra nhất sau khi tiêm tĩnh mạch.

    Những phản ứng phụ ít xảy ra hơn:

    Nhiễm độc máu, viêm phổi, viêm mô tế bào tại nơi tiêm đau bụng, loét da, tàn nhang, bí tiểu, vàng da, rối loạn chức năng thận, viêm kết mạc, viêm thần kinh (có thể kèm theo nổi ban), độc tính trên thần kinh, chóng mặt, đau họng, rụng lông tóc, loét thực quản, viêm thực quản phản vệ (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng), viêm thực quản, phù dị ứng, đau ngực, ngứa, nhức đầu, hơi thở ngắn, nổi mề đay.

    Trị liệu liều cao:

    Phác đồ liều cao Cytarabine (2-3g/m2) có độc tính nặng, đôi khi gây chết, trên hệ thần kinh trung ương, hệ tiêu hóa và phổi (khác với các phản ứng do dùng Cytarabine theo liều qui ước). Những phản ứng nặng này bao gồm:

    – Ðộc tính trên giác mạc, và viêm kết mạc xuất huyết, có thể phòng ngừa hay giảm nhẹ bằng thuốc nhỏ mắt corticosteroid.

    – Loạn chức năng não và tiểu não như thay đổi nhân cách, mất ngủ và hôn mê, thường hồi phục được.

    – Loét đường tiêu hóa nặng, bao gồm: chứng trướng khí nang ruột dẫn tới viêm phúc mạc.

    – Nhiễm độc máu và áp xe gan.

    – Phù phổi.

    – Tổn thương gan kèm theo tăng bilirubin máu.

    – Hoại tử ruột.

    – Viêm đại tràng hoại tử.

    Hai bệnh nhân bạch cầu cấp không thuộc dòng lymphô đã bị bệnh thần kinh vận động và cảm giác ngoại biên sau khi dùng liều cao Cytarabine, daunorubicin và asparaginase. Những bệnh nhân dùng liều cao Cytarabine phải được theo dõi biến chứng thần kinh bởi vì có thể cần thay đổi liều trong phác đồ để tránh những rối loạn thần kinh không hồi phục rất hiếm khi được ghi nhận.

    Mười bệnh nhân được thực nghiệm liều trung gian (1g/m2) Cytarabine đơn độc hay phối hợp với hóa dược khác (amsacrine, daunorubicin, etoposide) bị viêm phổi mô kẽ lan tỏa nguyên nhân không rõ ràng có thể là do Cytarabine.

    Ðã có báo cáo về trường hợp phát ban không nặng, dẫn đến tróc vẩy da. Rụng lông tóc toàn thân thường thấy ở trị liệu liều cao hơn là với liều Cytarabine chuẩn.

    Nếu trị liệu liều cao, không được dùng chất pha loãng có benzyl alcohol.

    Bệnh về cơ tim dẫn đến tử vong tăng lên sau khi thực nghiệm liều cao Cytarabine và cyclophosphamide để chuẩn bị ghép tủy xương. Ðiều này có thể phụ thuộc vào liều thuốc.

    Hội chứng nguy kịch hô hấp đột ngột, tiến triển nhanh chóng đến phù phổi và tim to rõ rệt trên phim X quang tiếp sau thực nghiệm liều cao Cytarabine để điều trị bệnh bạch cầu tái phát. Ở một trường hợp, hậu quả của hội chứng này là tử vong.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Cytarabine-Belmed và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Cytarabine-Belmed bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Methotrexate-Belmd

    Thuốc Methotrexate-Belmd

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Methotrexate-Belmd công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Methotrexate-Belmd điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Methotrexate-Belmd ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Methotrexate-Belmd

    Methotrexate-Belmd
    Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
    Dạng bào chế:Thuốc tiêm đông khô
    Đóng gói:Hộp 1 lọ 50mg. Hộp 5 ống x 50mg

    Thành phần:

    Methotrexat 50mg
    SĐK:VN-21825-19
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Thông tin thành phần Methotrexate

    Dược lực:

    Methotrexate là thuốc chống ung thư, kháng acid folic – là chất quan trọng trong tổng hợp acid nucleic. Thuốc có tác dụng đặc hiệu trên pha S.

    Dược động học :

    – Hấp thu: Thuốc đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết thanh từ 0,5-2 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp. Khoảng 50% thuốc được gắn một cách thuận nghịch vào protein huyết tương.

    – Phân bố: Methotrexate được phân phối rộng rãi vào các mô cơ thể. Thuốc cũng được phân phối vào khoang tích tụ dịch như nước báng hoặc dịch màng phổi. Methotrexate được giữ lại một thời gian dài trong một số mô, ví dụ hàng tuần trong thận, nhiều tháng trong gan. Ở liều bình thường, methotrexate được vận chuyển rất ít qua hàng rào máu – não. Nếu cần có nồng độ trong hệ thần kinh trung ương, thì nên dùng methotrexate tiêm trong vỏ não.

    – Chuyển hoá và bài tiết: Với liều quy định, methotrexate chuyển hoá không đáng kể, còn với liều cao, một phần được chuyển hóa. Thuốc được thải trừ qua 3 giai đoạn. Methotrexate được bài tiết chủ yếu qua thận, và một lượng nhỏ qua phân có thể do đường mật. Nếu thận bị tổn thương thì sự bài tiết của methotrexate bị giảm và nồng độ trong huyết thanh và mô gia tăng nhanh chóng.

    Tác dụng :

    Ức chế cạnh tranh với enzym dihydrofolate reductase, men này xúc tác sự biến đổi acid folic thành tetrahydrofolate. Hiện tượng này can thiệp vào sự tổng hợp của acid thymidilic và purin, và như vậy, sẽ ức chế sự tổng hợp DNA và sự sinh sản của tế bào và ức chế ở mức độ ít hơn sự tổng hợp protein và RNA.

    Methotrexate có tính đặc hiệu chu kỳ tế bào trong giai đoạn S. Mô có tốc độ tăng sinh tế bào mạnh như ung thư mô, tủy xương, tế bào biểu mô hoặc tế bào phôi là nơi nhạy cảm nhất. Vì lý do này, Methotrexate được dùng điều trị bệnh vảy nến, ở đó tốc độ sinh sản của tế bào biểu mô da mạnh hơn tế bào bình thường rất nhiều.

    Chỉ định :

    Methotrexate có thể phổ chống ung thư rộng và có thể được dùng đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc khác. Có chỉ định trong các trường hợp sau:

    – Liệu pháp một thuốc trong điều trị ung thư: ung thư vú, ung thư biểu mô màng đệm, u tuyến màng đệm, thai trứng.

    – Liệu pháp phối hợp điều trị ưng thư: bạch cầu cấp (đặc biệt là bạch cầu cấp dòng nguyên bào lymphô hay dòng nguyên tủy bào), u lymphô Burkitt, lymphosarcom giai đoạn muộn (III và IV, theo hệ thống Peter) và u sùi dạng nấm giai đoạn muộn.

    – Tiêm trong vỏ não: trong trường hợp di căn màng não (chỉ dùng chế phẩm đẳng trương).

    – Dùng liều cao: Methotrexate có thể dùng liều cao đơn độc hoặc phối hợp với thuốc khác để điều trị các trường hợp sau đây: sarcom tạo xương, bạch cầu cấp, ung thư biểu mô phế quản, hoặc ung thư biểu bì vùng đầu cổ. Khi dùng liều cao, luôn luôn phải phối hợp với leucovorin. Leucovorin (acid folinic) là một dẫn chất của tetrahydrofolate và cạnh tranh với methotrexate để vào trong tế bào. “Leucovorin cứu hộ” giúp bảo vệ tế bào mô lành chống lại tác dụng giết tế bào của methotrexate liều cao.

    – Hóa trị liệu vảy nến: methotrexate được dùng để điều trị chứng vảy nến nặng, khó trị, gây tàn phế, không đáp ứng với các thuốc thường dùng. Tuy nhiên, do nguy cơ kèm theo của methotrexate, chỉ dùng thuốc này sau khi đã xác định chẩn đoán bằng sinh thiết và/hoặc khám da.

    Liều lượng – cách dùng:

    Hóa trị ung thư: Methotrexate có thể tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch và tiêm trong vỏ não.

    Methotrexate 1000mg trong 10ml không được tiêm trong vỏ vì dung dịch có tính ưu trương.

    Carcinoma màng đệm và những bệnh nguyên bào nuôi tương tự: liều thường dùng là 15-30mg tiêm bắp mỗi ngày trong 5 ngày. Trước khi điều trị nhắc lại, phải chờ cho đến khi các dấu hiệu nhiễm độc biến mất, thường ít nhất 1 tuần hoặc hơn. Thông thường cần từ 3 đến 5 đợt điều trị.

    Hiệu quả của điều trị được đánh giá bằng xét nghiệm định lượng kích thích tố HCG nước tiểu trong 24 giờ, chất này phải trở về bình thường hoặc dưới 50 IU/24 giờ sau 3 hoặc 4 đợt điều trị. Sang thương lành hoàn toàn người vào 4 đến 6 tuần sau đó. Sau khi HCG trở về bình thường, nên tiếp tục 1 hoặc 2 đợt điều trị nữa.

    Vấn đề chính là đánh giá cẩn thận tình trạng lâm sàng trước khi bắt đầu mỗi đợt điều trị.

    Có thể dùng methotrexate phối hợp theo chu kỳ với các thuốc chống ung thư khác.

    Ung thư vú: Methotrexate phối hợp kéo dài theo chu kỳ với cyclo-phosphamide và fluorouracil cho kết quả tốt khi được sử dụng để phụ trợ cho phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt để trong ung thư vú nguyên phát có di căn hạch. Liều methotrexate là 40mg/m2, tiêm tĩnh mạch vào ngày thứ 1 và ngày thứ 8.

    Bệnh bạch cầu: Methotrexate, phối hợp theo chu kỳ với corticosteroid và các thuốc chống bệnh bạch cầu khác, cho kết quả tốt, bệnh giảm nhanh. Liều được dùng là 3,3mg/m2 uốngkèm với prednisone 60mg/m2 mỗi ngày. Khi bệnh đã lui, có thể cho liều duy trì 30mg/m2 uống hoặc tiêm bắp, 2 lần mỗi tuần, hoặc 2,5mg/kg tiêm tĩnh mạch mỗi 14 ngày. Nếu tái phát thì có thể lặp lại chế độ điều trị. Bệnh bạch cầu dòng hạt cấp ít đáp ứng với hóa trị liệu. Bệnh giảm trong một thời gian ngắn, thường tái phát và kháng thuốc xuất hiện nhanh chóng.

    U sùi dạng nấm: Có thể thay uống bằng cách tiêm bắp Methotrexate 50mg hàng tuần hoặc 25mg tiêm bắp 2 lần mỗi tuần.

    Ðiều trị liều cao: xem phần Thận trọng.

    Chế độ điều trị thay đổi rất nhiều tùy theo bản chất và mức độ nghiêm trọng của bệnh và kinh nghiệm của người thầy thuốc.

    Chỉ có chuyên gia giỏi với đầy đủ phương tiện để kiểm soát các tác dụng ngoại ý mới được sử dụng liều cao.

    Hóa trị bệnh vẩy nến: Liều lượng thay đổi rất nhiều tùy bản chất và mức độ nghiêm trọng của bệnh và kinh nghiệm của người thầy thuốc. Bệnh nhân phải được thông báo đầy đủ về các nguy cơ và phải được bác sĩ theo dõi thường xuyên trong suốt quá trình điều trị. Bệnh vẩy nến nặng, không kiểm soát được có thể đáp ứng với methotrexate 10-25mg tiêm bắp hoặc tĩnh mạch một lần mỗi tuần. Có thể điều chỉnh liều theo đáp ứng của bệnh nhân, tối đa 50mg/tuần. Sau khi đạt đáp ứng tối ưu, nên giảm xuống liều tối thiểu có thể được với khoảng nghỉ càng dài càng tốt. Dùng thuốc tại chỗ theo qui ước càng sớm càng tốt. Lượng giá chức năng thận, gan và các yếu tố huyết học trước trong và sau khi điều trị với methotrexate. Nên dùng phương tiện ngừa thai thích hợp trong khi và ít nhất 8 tuần sau khi điều trị methotrexate.

    THỂ THỨC THAO TÁC

    Thận trọng khi pha thuốc:

    Cũng như với tất cả các thuốc chống ung thư khác, người đã được tập huấn mới nên chuẩn bị thuốc tiêm Methotrexate B.P. Công việc cần được tiến hành ở nơi thích hợp (tốt nhất trong buồng an toàn dẫn lưu kiểu phiến). Mặc áo bảo vệ khi chuẩn bị thuốc methotrexate. Khi da và niêm mạc bất ngờ bị thuốc dính vào, thì phải rửa tay ngay tức thì với nước và xà bông thật kỹ.

    Nên sử dụng ống tiêm Luer-Lock. Ðề nghị dùng kim nòng rộng để giảm thiểu áp lực và hình thành khí dung. Cũng có thể hạn chế tạo ra khí dung bằng cách dùng kim thông hơi trong lúc pha thuốc.

    Dụng cụ dùng trong lúc pha thuốc và những vật thải ra phải được bỏ vào trong một túi polythen hàn 2 lớp và đốt ở nhiệt độ 1100 độ C.

    Cách xử trí thuốc bị đánh đổ:

    Nếu thuốc bị đổ ra ngoài, hạn chế đi lại vùng bị ảnh hưởng. Mang đôi găng tay (Latex), mặt nạ hô hấp, áo choàng và kính bảo vệ mắt. Giới hạn thuốc đổ lan ra bằng cách dùng chất liệu thấm hút như giấy hoặc mùn cưa phủ lên chỗ bị vấy thuốc. Có thể xử lý bằng sodium hypochlorite 5%. Thu nhặt các vật bẩn từ chỗ thuốc bị đổ cho vào vật chứa bằng nhựa không thủng và dán nhãn. Chất thải gây độc tế bào phải được xem là nguy hiểm hay độc và được ghi rõ ràng “Chất thải độc cho tế bào để thiêu hủy ở 1100 độ C”. Loại rác này phải được thiêu hủy ở 1100 độ C ít nhất trong 1 giây. Rửa sạch vùng còn lại với thật nhiều nước.

    Chống chỉ định :

    Không được dùng thuốc tiêm Methotrexate B.P. trong những trường hợp sau: tổn thương chức năng thận, có thai, bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, rối loạn chức năng thận và gan hoặc rối loạn tạo máu từ trước như giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu và suy tủy xương.

    Tác dụng phụ

    – Ức chế tủy: Ức chế tủy xương, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm gammaglobulin máu, xuất huyết nhiều chỗ, nhiễm trùng huyết. Các tác dụng này phụ thuộc vào liều lượng và phác đồ.

    – Trên da: Hồng ban, ngứa, mề đay, mẫn cảm với sắc tố, vết bầm máu, giãn mạch máu, nổi mụn và nhọt. Tổn thương vẩy nến có thể nặng hơn khi bệnh nhân đồng thời được chiếu tia cực tím. Rụng lông tóc có thể xảy ra, nhưng thường hồi phục được.

    – Trên hệ tiêu hóa: Viêm lợi, viêm miệng, viêm hầu, buồn nôn, chán ăn, nôn, tiêu chảy, nôn máu, nôn chất đen, loét và xuất huyết đường tiêu hóa, viêm ruột non, nhiễm độc gan do teo gan cấp, hoại tử, thoái hóa mỡ, xơ quanh tĩnh mạch cửa hoặc xơ gan.

    – Trên hệ sinh dục-tiết niệu: suy thận, tăng nitơ huyết, viêm bàng quang, tiểu máu, khiếm khuyết sinh noãn hoặc sinh tinh, thiểu tinh tạm thời, rối loạn kinh nguyệt, hiếm muộn, sẩy thai, dị tật phôi, bệnh lý thận nặng.

    – Trên hệ thần kinh trung ương: Nhức đầu, lơ mơ, nhìn mờ, thất ngữ, liệt nhẹ một bên và co giật. Co giật,liệt nhẹ, hội chứng Guillain-Barré và tăng áp lực dịch não tủy xảy ra sau khi tiêm thuốc trong vỏ não.

    – Linh tinh: Viêm phổi, thay đổi biến dưỡng, tiểu đường, loãng xương, những thay đổi bất thường trong tế bào và ngay cả chết đột ngột cũng đã được báo cáo.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Methotrexate-Belmd và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Methotrexate-Belmd bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Fludarabine-Belmed

    Thuốc Fludarabine-Belmed

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Fludarabine-Belmed công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Fludarabine-Belmed điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Fludarabine-Belmed ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Fludarabine-Belmed

    Fludarabine-Belmed
    Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
    Dạng bào chế:Bột đông khô pha tiêm

    Thành phần:

    Fludarabin phosphat 50mg
    SĐK:VN-22130-19
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Bạch cầu dòng lympho mạn tính tế bào B.
    – Fludarabin thường được sử dụng là liệu pháp thứ 2 để điều trị bạch cầu dòng lympho, khi mà liệu pháp alkyl hóa ADN ban đầu không thành công.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Fludarabin được tiêm tĩnh mạch hay truyền tĩnh mạch 30 phút với liều 25 mg/m2/ngày trong 5 ngày liên tiếp của chu kỳ 28 ngày. Mỗi đợt điều trị thường khoảng 6 chu kỳ.
    – Hòa tan trong 2 ml nước cất pha tiêm và sử dụng trong vòng 8 giờ sau khi hoàn nguyên.
    – Fludarabin phosphat được pha loãng thêm với 100 ml hoặc 125 ml dung dịch Dextrose 5% hoặc Dung dịch Natri 0,9% dùng để truyền tĩnh mạch. Hoặc có thể pha loãng thêm với 10 ml NaCl 0,9% để tiêm tĩnh mạch chậm.
    – Liều dùng trong quá trình điều trị phải dựa vào đáp ứng lâm sàng và sự dung nạp thuốc Fludarabin phosphat. 
    – Giảm 1/2 liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ và vừa: độ thanh thải của thận 30-70 ml/phút. 
    – Không dùng cho bệnh nhân suy thận nặng, độ thanh thải < 30 ml/phút.

    Chống chỉ định:

    Dị ứng với thành phần thuốc.

    Suy thận ClCr Thiếu máu tan huyết mất bù.

    Phụ nữ có thai & đang cho con bú.

    Tương tác thuốc:

    Không dùng với pentostatin. Giảm tác dụng bởi dipyridamole & các chế phẩm ức chế adenosine khác.

    Tác dụng phụ:

    Ức chế tuỷ xương, sốt, rét run, nhiễm trùng kể cả viêm phổi.

    Chú ý đề phòng:

    -Chức năng huyết học cần được theo dõi thường xuyên, cần phải giảm liều hoặc tạm ngưng điều trị nếu xét nghiệm thấy tình trạng suy tủy càng nặng thêm.

    – Thận trọng khi dùng cho người cao tuổi (> 75 tuổi) vì khả năng thải trừ Fludarabin phosphat qua đường niệu ở những bệnh nhân này giảm.

    Thông tin thành phần Fludarabine

    Chỉ định :

    Bạch cầu dòng lympho mãn tính tế bào B.

    Liều lượng – cách dùng:

    Thuốc tiêm: tiêm IV hoặc truyền IV trong 30 phút người lớn: 25 mg/m2 diện tích bề mặt x 5 ngày liên tục của chu kỳ 28 ngày. 

    Dạng viên: uống nguyên viên, 40 mg/m2 diện tích cơ thể/ngày x 5 ngày liên tiếp của mỗi chu kỳ 28 ngày. 
    Có thể uống khi đói hoặc trong bữa ăn.

    Chống chỉ định :

    Dị ứng với thành phần thuốc. Suy thận ClCr

    Tác dụng phụ

    Ức chế tuỷ xương, sốt, rét run, nhiễm trùng kể cả viêm phổi. Phù, khó chịu, mệt mỏi, bệnh thần kinh ngoại biên, rối loạn thị giác, chán ăn, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, viêm dạ dày, ban ngoài da. Nhiễm trùng cơ hội nặng.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Fludarabine-Belmed và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Fludarabine-Belmed bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Cytarabine – Belmed

    Thuốc Cytarabine – Belmed

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Cytarabine – Belmed công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Cytarabine – Belmed điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Cytarabine – Belmed ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Cytarabine – Belmed

    Cytarabine - Belmed
    Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
    Dạng bào chế:Thuốc tiêm đông khô
    Đóng gói:Hộp 1 lọ

    Thành phần:

    Cytarabin 100mg
    SĐK:VN-22372-19
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    Liều quy ước bạch cầu dòng hạt cấp; bạch cầu nguyên lymphô bào cấp, bạch cầu nguyên tuỷ bào cấp; tiêm vào khoang nhện để ngừa và trị thâm nhiễm ở TKTW, u lymphô bào an toả. Liều cao: bạch cầu dòng hạt cấp kháng trị, bạch cầu nguyên tuỷ bào mạn chuyển cấp, bạch cầu tái phát, có nguy cơ cao, thứ phát sau hoá trị hay xạ trị, chuyển dạng tiền bạch cầu, u lymphô không Hodgkin kháng trị.

    Liều lượng – Cách dùng

    Làm thuyên giảm trong bệnh bạch cầu cấp: 100 mg/m2/ngày, truyền IV liên tục x 5 – 10 ngày. Thuyên giảm duy trì 70 – 200 mg/m2/ngày, tiêm IV hoặc SC x 5 ngày mỗi 4 tuần hoặc 1 lần/tuần. U Lymphô bào không Hodgkin người lớn dùng trong đa trị liệu, trẻ em: tùy theo týp bệnh. Liều cao 1 – 3 g/m2 truyền IV trong 1 – 3 giờ, cách quãng 12 giờ x 4 – 6 ngày. Tiêm vào khoang nhện: 5 – 30 mg/m2 1 lần từng 2 – 7 ngày.

    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với thành phần của thuốc. Giảm tế bào máu có bệnh căn không ác tính. Suy gan và/hoặc suy thận nặng, loét dạ dày – ruột, vừa phẫu thuật. Có thai và cho con bú. Người trên 60 tuổi.

    Tương tác thuốc:

    Các thuốc độc tế bào, xạ trị. La-asparaginase. Flucytasine.

    Tác dụng phụ:

    Suy tủy, giảm các dòng tế bào máu. Hội chứng tiết không đủ hormon kháng niệu. Giảm Ca máu, tăng acid uric máu. Rối loạn TKTW, thị giác, tim, hô hấp, lồng ngực, trung thất, tiêu hóa và gan mật, da và mô dưới da, cơ xương khớp, thận niệu.

    Chú ý đề phòng:

    Kiểm tra thường xuyên công thức máu, acid uric máu, chức năng thận, TKTW, hô hấp.

    Thông tin thành phần Cytarabine

    Dược lực:

    Cytarabine là một chất chống chuyển hóa.

    Mặc dù cơ chế chưa được hiểu biết đầy đủ , dường như cytarabine tác động thông qua việc ức chế DNA polymerase. Cytarabine chỉ thâm nhập giới hạn vào DNA và RNA nhưng có tác dụng quan trọng.

    Dược động học :

    Hấp thu:

    Cytarabine không hiệu quả khi uống; ít hơn 20% liều thuốc được hấp thu vào đường tiêu hóa.

    Có thể đạt được mức độ tương đối hằng định trong huyết tương bằng sau khi tiêm dưới da hoặc tiêm bắp Cytarabine, nồng độ phóng xạ trong huyết tương lên đến mức đỉnh trong vòng 20-60 phút và thấp hơn nhiều so với đường tĩnh mạch. Nồng độ cytarabine trong huyết tương các bệnh nhân nhận cùng một liều thuốc rất khác nhau. Một số nghiên cứu cho rằng sự khác biệt này liên quan tới đáp ứng lâm sàng. Nồng độ trong huyết tương cao liên đới với sự thuyên giảm về mặt huyết học.

    Phân phối:

    Với nồng độ điều trị đạt được trong huyết tương là 0,005-1,0mg/l; 13,3% cytarabine trong huyết tương kết hợp với protein. Tỷ lệ thuốc kết hợp không lệ thuộc vào nồng độ trong giới hạn điều trị của thuốc.

    Thực nghiệm với liều 2 hay 3g/cm2 bằng đường tĩnh mạch mỗi 12 giờ cho thấy thuốc đi vào hệ thần kinh trung ương một lượng lớn, sự phân cytarabine trong màn cứng, đi qua màng nhện và có thể cả nhu mô não tốt hơn dùng liều chuẩn tiêm trong vỏ. Trên bệnh nhân dùng liều chuẩn liên tục bằng đường tiêm dưới da và truyền tĩnh mạch, nồng độ thuốc trong dịch não tủy không đổi theo nhịp độ truyền.

    Biến đổi sinh học:

    Cytarabine được chuyển hóa bởi deoxycytidine kinase và những nucleotide kinase khác thành nucleotide triphosphate, một chất có tác dụng ức chế DNA polymerase. Cytarabine được hoàn nguyên dạng hoạt động bằng sự phosphoryl hóa trong nguyên bào leukemia và tủy xương bình thường. Cytarabine nhanh chóng bị khử amin bởi cytidine deaminase thành thành uracil arabinoside (1-b-D-arabinofuranosyluracil) không hoạt động. Quá trình này xảy ra chủ yếu ở gan, còn có trong máu và những mô khác ở mức độ ít hơn. Dường như sự cân đối giữa nồng độ kinase và deaminase là yếu tố quan trọng xác định tính nhạy cảm hay đề kháng của tế bào đối với cytarabine.

    Bài tiết:

    Sau khi tiêm tĩnh mạch nhanh Cytarabine, thuốc được đào thải khỏi huyết tương theo hai pha. Ðầu tiên là pha phân phối có thời gian bán hủy khoảng 10 phút, sau đó là pha thải trừ có thời gian bán hủy từ 1 đến 3 giờ.

    Trong 24 giờ khoảng 80% chất phóng xạ có thể tìm thấy lại trong nước tiểu, trong đó 1-beta-D-arabinofuranosyluracil chiếm gần 90%.

    Tác dụng :

    Cytarabin (Ara-C), chất tương tự desoxycytosin nucleosid là một chất chống chuyển hoá. Cytarabin có tác dụng hoá trị liệu chống ung thư thông qua cơ chế đặc hiệu với pha S của quá trình phân chia tế bào hoạt động ( không có tác dụng trên pha nghỉ ) và ức chế tổng hợp DNA kèm theo tác dụng kìm hãm hoặc diệt tế bào ung thư. Thuốc có tác dụng rất ít trên RNA và quá trình tổng hợp protein. Không thấy có hiện tượng kháng chéo giữa Cytarabin và các thuốc chống ung thư khác. Cytarabin liều cao được dùng để điều trị bệnh bạch cầu khi dùng liều bình thường đã có tình trạng kháng thuốc tương đối.

    Chỉ định :

    Giảm nhẹ và duy trì tình trạng này cho cả người lớn và trẻ em mắc bệnh bạch cầu cấp tính không thuộc dòng lymphô. Thuốc cũng có ích trong việc điều trị bệnh bạch cầu khác, như là bệnh bạch cầu cấp tính dòng lymphô, bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy dòng tủy (giai đoạn nguyên bào). Có thể dùng Cytarabine đơn độc hay phối hợp với các chất chống ung thư khác những kết quả tốt nhất thường do trị liệu phối hợp. Nếu không điều trị duy trì thì sự thuyên giảm do Cytarabine chỉ thoáng qua. Thuốc đã được thực nghiệm trong nhiều bệnh ung thư khác nhau. Nói chung, thuốc có tác dụng trên một số ít bệnh nhân có khối u chắc. Một chương trình phối hợp thuốc với Cytarabine có ích cho trẻ em có u lymphô không phải Hodgkin. Cytarabine truyền tĩnh mạch liều cao 2-3g/m2 từ 1-3 giờ mỗi 12 giờ trong 2-6 ngày, kèm theo chất hóa trị liệu ung thư hoặc không, có hiệu quả điều trị đối với bệnh bạch cầu nhẹ, bệnh bạch cầu kháng thuốc và bệnh bạch cầu tái phát cấp tính.

    Dùng Cytarabine đơn độc hay phối hợp với thuốc khác (methotrexate, hydrocortisone sodium succinate) tiêm trong vỏ để phòng ngừa hay điều trị bệnh bạch cầu màng não.

    Liều lượng – cách dùng:

    Cytarabine không có tác dụng khi uống. Phác đồ và cách sử dụng thay đổi theo chương trình trị liệu. Có thể truyền hay tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da hoặc trong vỏ.

    Khi được tiêm mạch nhanh bệnh nhân có thể dung nạp thuốc ở liều cao hơn so với truyền tĩnh mạch chậm. Hiện tượng này là do tính gây bất hoạt nhanh chóng của thuốc và sự phơi nhiễm ngắn ngủi của các tế bào bình thường và ung thư nhạy cảm với nồng độ thuốc cao sau khi tiêm nhanh. Dường như tế bào bình thường và tế bào ung thư đáp ứng gần giống nhau đối với những cách sử dụng này và ưu thế điều trị không biểu hiện một cách dứt khoát.

    Trong liệu pháp gây cảm ứng với bệnh bạch cầu cấp tính không thuộc dòng lymphô, liều cytarabine thường dùng phối hợp với thuốc chống ung thư khác là truyền tĩnh mạch liên tục 100mg/m2 mỗi ngày (ngày 1-7) hoặc tiêm tĩnh mạch 100mg/m2 mỗi 12 giờ (ngày 1-7).

    Trong bệnh bạch cầu cấp tính dòng lymphô phải tham khảo y văn về những khuyến cáo hiện hành.

    Dùng đường trong vỏ ở bệnh bạch cầu màng não:

    Cytarabine được dùng tiêm trong vỏ cho bệnh bạch cầu cấp với liều từ 5mg/m2 đến 75mg/m2 bề mặt cơ thể. Cách tiêm thay đổi từ một lần mỗi ngày trong 4 ngày đến một lần mỗi 4 ngày, liều thường dùng nhất là 30mg/m2 mỗi 4 ngày cho đến khi xét nghiệm dịch não tủy bình thường, kế đến là một điều trị bổ sung. Phác đồ này thường được quyết định tùy theo kiểu biểu hiện và độ trầm trọng của triệu chứng thần kinh trung ương cũng như đáp ứng với điều trị trước đó.

    Cytarabine được tiêm trong vỏ với hydrocorytisone sodium succinate và methotrexate để trị liệu phòng ngừa ở trẻ mới được chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp dòng tủy, cũng như trong điều trị bệnh bạch cầu màng não.

    Sullivan đã báo cáo liệu pháp ba thuốc phòng ngừa này ngăn chận được bệnh thần kinh trung ương về sau, liệu pháp này còn cho sự trị liệu toàn diện và tỷ lệ sống sót tương tự nhóm bệnh nhân được phòng ngừa bằng xạ trị thần kinh trung ương và tiêm trong vỏ methotrexate.

    Liều Cytarabine là 30mg/m2,Hydrocortisone sodium succinate 15mg/m2, và methotrexate 15mg/m2. Bác sĩ cần phải đọc bài báo cáo này trước khi bắt đầu điều trị.

    Liệu pháp ba thuốc phòng ngừa cũng hữu ích tiếp sau điều trị thành công giai đoạn màng não cấp tính. Bác sĩ phải tự tra cứu y văn hiện hành trước khi thực hiện một chương trình như vậy.

    Dùng cho trẻ em:

    Sử dụng Cytarabine trên trẻ em tương tự sử dụng trên người lớn.

    Pha thuốc:

    Cytarabine chủ yếu được pha thành dung dịch dùng một lần.

    Khi pha chế để sử dụng nhiều lần, chất pha loãng phải có chứa chất bảo quản.

    Bột Cytarabine vô trùng có thể được hòa tan trong nước để tiêm 0,9% sodium chloride hay 5% glucose trong nước có chứa hoặc không chứa chất bảo quản.

    Ðể tiêm trong vỏ thì đề nghị dùng 0,9% sodium chloride không chất bảo quản.

    Nồng độ tối đa có thể đạt được sau khi pha loãng là 100mg/ml. Ðể có được dung dịch 100mg/ml một cách chính xác phải thêm vào thể tích sau đây:

    4,7ml thêm: 500mg Cytarabine

    9,4ml thêm: 1g Cytarabine

    18,7ml thêm: 2g Cytarabine

    Chống chỉ định :

    Cytarabine có chống chỉ định cho bệnh nhân mẫn cảm với thuốc.

    Tác dụng phụ

    Những phản ứng định trước:

    Vì Cytarabine là chất ức chế tủy xương, hậu quả định trước của việc sử dụng thuốc là thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, tăng nguyên hồng cầu khổng lồ và giảm hồng cầu lưới. Mức độ các phản ứng này phụ thuộc liều lượng và phác đồ. Có thể tiên đoán được những thay đổi về hình dạng tế bào trong tủy xương và phết màu ngoại biên.

    Sau năm ngày truyền tĩnh mạch hoặc tiêm từ 50mg/m2 đến 600mg/m2, sự ức chế bạch cầu trải qua hai giai đoạn. Không tính số đếm ban đầu, liều lượng, hay phác đồ, bạch cầu bắt đầu giảm trong 24 giờ đầu tiên tới điểm thấp nhất vào ngày 7-9. Sau đó thoáng tăng lên với đỉnh vào khoảng ngày 12. Lần thứ 2 giảm nhiều tới điểm thấp nhất vào ngày 15-24. Trong 10 ngày tiếp sau nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản. Sự ức chế tiểu cầu thấy được vào ngày 5 với đỉnh thấp nhất vào giữa ngày 12-15. Trong 10 ngày tiếp theo nhanh chóng tăng lên trên mức căn bản.

    Biến chứng nhiễm trùng:

    Nhiễm siêu vi, vi khuẩn, vi nấm, ký sinh trùng hay nhiễm vi sinh vật hoại sinh, ở bất cứ vị trí nào của cơ thể, có thể liên quan đến việc sử dụng Cytarabine đơn độc hoặc phối hợp với chất ức chế miễn dịch khác theo sau liều ức chế miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Những nhiễm trùng này có thể nhẹ, có thể nặng và có khi gây tử vong.

    Hội chứng Cytarabine:

    Hội chứng Cytarabine đã được mô tả. Ðặc điểm của nó là sốt, đau cơ, đau xương, thỉnh thoảng đau ngực, nổi ban dát sẩn, viêm kết mạc và mệt mỏi. Thường xuất hiện 6-12 sau khi dùng thuốc. Corticosteroid hữu ích để trị hay ngừa hội chứng này. Nếu nghĩ rằng triệu chứng có thể chữa được, cần phải nghĩ đến corticosteroid cũng như tiếp tục trị liệu với Cytarabine.

    Những phản ứng thường xảy ra nhất:

    Chán ăn, rối loạn chức năng gan, buồn nôn, ôn mửa, tiêu chảy, sốt, nổi ban, viêm tắc tĩnh mạch, viêm hay loét miệng và hậu môn.

    Buồn nôn và nôn thường xảy ra nhất sau khi tiêm tĩnh mạch.

    Những phản ứng phụ ít xảy ra hơn:

    Nhiễm độc máu, viêm phổi, viêm mô tế bào tại nơi tiêm đau bụng, loét da, tàn nhang, bí tiểu, vàng da, rối loạn chức năng thận, viêm kết mạc, viêm thần kinh (có thể kèm theo nổi ban), độc tính trên thần kinh, chóng mặt, đau họng, rụng lông tóc, loét thực quản, viêm thực quản phản vệ (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng), viêm thực quản, phù dị ứng, đau ngực, ngứa, nhức đầu, hơi thở ngắn, nổi mề đay.

    Trị liệu liều cao:

    Phác đồ liều cao Cytarabine (2-3g/m2) có độc tính nặng, đôi khi gây chết, trên hệ thần kinh trung ương, hệ tiêu hóa và phổi (khác với các phản ứng do dùng Cytarabine theo liều qui ước). Những phản ứng nặng này bao gồm:

    – Ðộc tính trên giác mạc, và viêm kết mạc xuất huyết, có thể phòng ngừa hay giảm nhẹ bằng thuốc nhỏ mắt corticosteroid.

    – Loạn chức năng não và tiểu não như thay đổi nhân cách, mất ngủ và hôn mê, thường hồi phục được.

    – Loét đường tiêu hóa nặng, bao gồm: chứng trướng khí nang ruột dẫn tới viêm phúc mạc.

    – Nhiễm độc máu và áp xe gan.

    – Phù phổi.

    – Tổn thương gan kèm theo tăng bilirubin máu.

    – Hoại tử ruột.

    – Viêm đại tràng hoại tử.

    Hai bệnh nhân bạch cầu cấp không thuộc dòng lymphô đã bị bệnh thần kinh vận động và cảm giác ngoại biên sau khi dùng liều cao Cytarabine, daunorubicin và asparaginase. Những bệnh nhân dùng liều cao Cytarabine phải được theo dõi biến chứng thần kinh bởi vì có thể cần thay đổi liều trong phác đồ để tránh những rối loạn thần kinh không hồi phục rất hiếm khi được ghi nhận.

    Mười bệnh nhân được thực nghiệm liều trung gian (1g/m2) Cytarabine đơn độc hay phối hợp với hóa dược khác (amsacrine, daunorubicin, etoposide) bị viêm phổi mô kẽ lan tỏa nguyên nhân không rõ ràng có thể là do Cytarabine.

    Ðã có báo cáo về trường hợp phát ban không nặng, dẫn đến tróc vẩy da. Rụng lông tóc toàn thân thường thấy ở trị liệu liều cao hơn là với liều Cytarabine chuẩn.

    Nếu trị liệu liều cao, không được dùng chất pha loãng có benzyl alcohol.

    Bệnh về cơ tim dẫn đến tử vong tăng lên sau khi thực nghiệm liều cao Cytarabine và cyclophosphamide để chuẩn bị ghép tủy xương. Ðiều này có thể phụ thuộc vào liều thuốc.

    Hội chứng nguy kịch hô hấp đột ngột, tiến triển nhanh chóng đến phù phổi và tim to rõ rệt trên phim X quang tiếp sau thực nghiệm liều cao Cytarabine để điều trị bệnh bạch cầu tái phát. Ở một trường hợp, hậu quả của hội chứng này là tử vong.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Cytarabine – Belmed và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Cytarabine – Belmed bình luận cuối bài viết.

  • Thuốc Paclitaxel- Belmed

    Thuốc Paclitaxel- Belmed

    AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Paclitaxel- Belmed công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Paclitaxel- Belmed điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Paclitaxel- Belmed ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.

    Paclitaxel- Belmed

    Paclitaxel- Belmed
    Nhóm thuốc: Thuốc chống ung thư và tác động vào hệ thống miễn dịch
    Dạng bào chế:Dung dịch đậm đặc để pha dịch truyền tĩnh mạch
    Đóng gói:Hộp 1 lọ 5ml

    Thành phần:

    Paclitaxel 30mg/5ml
    SĐK:VN2-480-16
    Nhà sản xuất: The Belmedpreparaty RUE – CH BÊ LA RÚT
    Nhà đăng ký: Công ty TNHH MTV Vimepharco
    Nhà phân phối:

    Chỉ định:

    – Điều trị ung thư buồng trứng di căn khi các biện pháp điều trị thông thường bằng các anthracyclin và platin đã thất bại hay bị chống chỉ định.
    – Paclitaxel được sử dụng kết hợp với doxorubicin trong điều trị bổ trợ là phác đồ được lựa chọn hàng đầu trong điều trị ung thư vú di căn. Điều trị ung thư vú di căn khi liệu pháp thông thường với các anthracyclin đã thất bại hoặc ung thư vú tái phát trong thời gian 6 tháng sau điều trị bổ trợ.
    – Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư Kaposi liên quan đến AIDS.

    Liều lượng – Cách dùng

    – Cần dùng: 12 giờ & 6 giờ trước đợt điều trị: dexamethasone 20 mg, uống hay tiêm IV; 30-60 phút trước đợt điều trị: tiêm IV cimetidine 300 mg hay ranitidine 50 mg & diphenhydramine 50 mg. 

    – Trong điều trị: tiêm Paclitaxel 135-175 mg/m2, truyền IV trong 3 giờ hay 24 giờ, trong 3 tuần. Không nên lặp lại liều khi bạch cầu < 1500/mm3, tiểu cầu < 100000/mm3.
    Liều dùng:
     Mức độ đáp ứng với liệu pháp điều trị sử dụng paclitaxel phụ thuộc vào tính chất khối u, thể tích khối u và sự gia tăng mức độ chịu đựng với hóa trị liệu có chứa platin trước đó.
    Việc điều trị phải được tiến hành bởi thầy thuốc có kinh nghiệm về hóa trị liệu chống ung thư.
    – Điều trị trước khi sử dụng paclitaxel
    Trước khi tiêm truyền paclitaxel, sử dụng dexamethason, liều 20 mg đường uống (trước 12 giờ và 6 giờ) hoặc tiêm truyền tĩnh mạch (14 giờ và 7 giờ). Trong trường hợp bệnh nhân bị HIV, có thể giảm liều uống dexamethason đến 10 mg. Khuyến cáo sử dụng diphenhydramin (50 mg tiêm tĩnh mạch, 30 – 60 phút trước khi dùng thuốc) và cimetidin, famotidin, ranitidin.
    – Ung thư buồng trứng:
    + Phác đồ lựa chọn hàng đầu để điều trị ung thư biểu mô buồng trứng tiến triển
    Khi phối hợp cisplatin để điều trị khởi đầu ung thư buồng trứng tiến triển, có 2 phác đồ có paclitaxel được khuyến cáo. Cần quan tâm đến độc tính khi chọn phác đồ thích hợp cho bệnh nhân. Một phác đồ dùng paclitaxel 175 mg/m2 (diện tích cơ thể) truyền tĩnh mạch 3 giờ, sau đó truyền tĩnh mạch cisplatin 75 mg/ m2, cách 3 tuần một đợt. Một phác đồ khác dùng paclitaxel 135 mg/m2 truyền tĩnh mạch 24 giờ, sau đó truyền tĩnh mạch cisplatin 75 mg/m2, cách 3 tuần một đợt.
    + Phác đồ lựa chọn hàng hai hoặc điều trị kế tiếp đối với ung thư buồng trứng tiến triển
    Dùng đơn trị liệu ở bệnh nhân ung thư buồng trứng di căn không đáp ứng với pháp đồ lựa chọn hàng đầu hoặc hóa trị liệu kế tiếp, phác đồ khuyên dùng paclitaxel là 135 hoặc 175mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ và cách 3 tuần nhắc lại nếu dung nạp được. Liều tối ưu của paclitaxel chưa xác định được đối với quần thể bệnh nhân này.
    – Ung thư vú:
    + Điều trị hỗ trợ ung thư vú có hạch
    Dùng paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách 3 tuần một đợt, dùng 4 đợt, sau khi đã hoàn tất dùng doxorubicin trong phác đồ phối hợp. Đã thử nghiệm trên rất nhiều bệnh nhân dùng 4 đợt doxorubicin và cyclophosphamid, sau đó điều trị bổ trợ bằng paclitaxel.
    + Pháp đồ lựa chọn hàng hai điều trị ung thư vú tiến triển
    Đối với ung thư vú di căn đã trơ với dùng hóa trị liệu hoặc ung thư vú tái phát trong vòng 6 tháng sau khi điều trị hỗ trợ, dùng paclitaxel thông thường 175mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách 3 tuần một lần.
    – Ung thư phổi không tế bào nhỏ:
    Khi dùng phối hợp với cisplatin để điều trị khởi đầu ung thư phổi không tế bào nhỏ ở bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật hoặc xạ trị, phác đồ khuyến cáo là paclitaxel 135 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 24 giờ, sau đó truyền tĩnh mạch cisplatin 75 mg/m2, cách 3 tuần một đợt. Một phác đồ khác, paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, sau đó truyền cisplatin 80 mg/m2, cách 3 tuần một đợt cũng đã được dùng cho bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ.
    – Sarcom Kaposi có liên quan đến AIDS
    + Đối với bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển, chỉ được bắt đầu dùng paclitaxel nếu bạch cầu trung tính ít nhất là 1 000/mm3.
    + Đối với bệnh nhân bị sarcom Kaposi có liên quan đến AIDS không đáp ứng với phác đồ lựa chọn hàng đầu hoặc hóa trị liệu kế tiếp, có hai phác đồ với paclitaxel được khuyến cáo. Một phác đồ dùng paclitaxel 135 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ cách 3 tuần 1 lần. Một phác đồ khác dùng paclitaxel 100 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách 2 tuần một lần. Các phác đồ này có mức liều là 45 và 50 mg/m2 mỗi tuần. Trong các nghiên cứu giai đoạn II, thấy phác đồ liều cao có độc tính lớn hơn, và bệnh nhân có tình trạng kém ở phác đồ dùng paclitaxel 100 mg/m2, cách 2 tuần một lần. 
    Mức liều của paclitaxel có thể giảm trong trường hợp bệnh nhân bị suy gan.
    Ở người bệnh có số lượng bạch cầu hạt bị giảm nặng (dưới 0,5 x 109/lít) (500/mm3) trong quá trình điều trị dài bằng paclitaxel thì nên giảm 20% liều dùng. Đợt điều trị nhắc lại paclitaxel chỉ tiến hành khi số lượng bạch cầu hạt ≥ 1.500 tế bào/mm3 và số lượng tiểu cầu ≥ 100.000 tế bào /mm3. Với bệnh nhân bị nhiễm HIV, chu kỳ sử dụng paclitaxel chỉ nhắc lại khi số lượng bạch cầu hạt đạt ít nhất 1 000/mm3. 
    *Cách dùng: 
    – Việc pha thuốc để truyền tĩnh mạch phải do người có kinh nghiệm tiến hành tại một phòng thích hợp. Khi pha thuốc cần phải mang găng tay và tiến hành thận trọng để tránh thuốc tiếp xúc với da và niêm mạc. Nếu da bị tiếp xúc với thuốc thì phải cọ rửa kỹ da bằng nước và xà phòng; nếu niêm mạc bị tiếp xúc với thuốc thì phải dùng nước súc rửa thật kỹ. 
    – Việc pha thuốc phải đảm bảo vô khuẩn. Dung môi để pha loãng thuốc có thể là: dung dịch natri clorid 0,9%, dung dịch glucose 5%, hỗn hợp dung dịch natri clorid 0,9% và dung dịch glucose 5% hoặc hỗn hợp dung dịch glucose 5% và dung dịch ringer. Thông thường thuốc được pha vào một trong các dung dịch trên sao cho dịch truyền có nồng độ paclitaxel là 0,3 – 1,2 mg/ml. 
    – Chỉ dùng các lọ, chai truyền làm bằng thủy tinh, polypropylen hay polyolefin. Bộ dây truyền phải được làm bằng polyethylen. 
    – Dịch truyền chuẩn bị như trên ổn định về mặt lý hóa trong vòng 27 giờ ở nhiệt độ phòng (khoảng 250C) và có ánh sáng. Tiến hành truyền dịch ngay hoặc trong vòng 3 giờ sau khi pha xong. Không để dịch truyền đã pha vào tủ lạnh. – Trong quá trình pha chế, dịch truyền có thể trở nên hơi đục. Điều này là do dung môi của chế phẩm nên dù lọc cũng không làm cho trong lại được. 
    – Khi truyền nên cho dịch chảy qua một bầu lọc có lỗ lọ không lớn hơn 0,22 micromet trên đường truyền. Điều này không ảnh hưởng đến chất lượng thuốc. 
    * Dự phòng quá mẫn trước khi dùng paclitaxel cũng như điều trị những đáp ứng phản vệ nguy hiểm tới tính mạng. Người bệnh cần phải được chuẩn bị trước như sau:
    Prednisolon: 30 – 40 mg (6 – 8 viên, 5 mg/viên), uống 12 giờ và 6 giờ trước khi truyền paclitaxel, cộng với thuốc kháng thụ thể H1 ví dụ Clemastin: truyền tĩnh mạch 2 mg trước khi truyền Paclitaxel 30 – 60 phút (có thể dùng các thuốc kháng histamin khác), cộng với cimetidin (300 mg) hay ranitidin (50 mg): truyền tĩnh mạch 30 – 60 phút trước khi truyền paclitaxel.

    Chống chỉ định:

    – Không dùng cho người bệnh quá mẫn với paclitaxel hay với bất kỳ thành phần nào của chế phẩm, đặc biệt là quá mẫn với dầu Cremophor EL. Chú ý là người bệnh thường quá mẫn không ít thì nhiều với dầu Cremophor EL.

    – Không dùng cho người bệnh có số lượng bạch cầu trung tính – Người mang thai hay đang cho con bú.

    – Không dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi vì thiếu dữ liệu về an toàn và hiệu quả cho các đối tượng này.

    Tác dụng phụ:

    Suy tủy, hạ HA, tăng men gan, đau cơ khớp, rối loạn tiêu hóa, rụng tóc, bệnh thần kinh ngoại biên.

    Chú ý đề phòng:

    – Cần giảm liều ở người bệnh có rối loạn hoặc suy giảm chức năng gan. Paclitaxel được khuyến cáo không sử dụng trong trường hợp transaminase tăng 10 lần so với giá trị giới hạn trên người bình thường, hoặc bilirubin > 7,5 mg/100 ml hoặc 5 lần so với giới hạn trên của người bình thường.

    – Sử dụng thận trọng ở người bệnh có bệnh tim.

    – Trong chế phẩm có tá dược là cremophor EL, chất này có nhiều khả năng gây ra các đáp ứng kiểu phản vệ do làm giải phóng nhiều histamin ở người quá mẫn với cremophor EL. Do đó, cần dùng thuốc dự phòng quá mẫn trước khi điều trị và cần chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với các đáp ứng phản vệ.

    – Thận trọng với bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh thần kinh ngoại vi (do hóa trị liệu hoặc bệnh thần kinh do đái tháo đường).

    – Khi tiêm truyền lần lượt nhiều thuốc, các dẫn chất của taxan (paclitaxel, docetaxel) nên dùng trước các dẫn xuất của platin để giảm nguy cơ suy tủy.

    – Những người già thường tăng nguy cơ bị độc tính (bệnh thần kinh, giảm bạch cầu hạt).

    Thông tin thành phần Paclitaxel

    Dược lực:

    Chống ung thư, điều chỉnh đáp ứng miễn dịch, kìm tế bào: nhóm Taxane.

    Dược động học :

    – Hấp thu: Sau khi được truyền tĩnh mạch, nồng độ của paclitaxel trong huyết tương giảm dần theo một đường cong biểu diễn gồm hai pha.

    Dược động của paclitaxel được nghiên cứu trong điều kiện truyền tĩnh mạch thời gian là 3 giờ và 24 giờ, và ở liều 135 và 175mg/m2. Thời gian bán hủy trung bình của pha cuối từ 3 đến 52,7 giờ và giá trị trung bình của thanh thải toàn phần từ 11,6 đến 24l/giờ/m2 Sự thanh thải toàn phần dường như giảm khi nồng độ của paclitaxel trong huyết tương cao.

    – Phân bố: Thể tích phân phối trung bình ở tình trạng cân bằng dao động từ 198 đến 688l/m2 điều này cho thấy có sự khuếch tán ngoại mạch và/hoặc gắn vào mô đáng kể của paclitaxel. Khi tăng 30% liều, từ 135 đến 175mg/m2, các giá trị Cmax và diện tích dưới đường cong tăng tương ứng với 75% và 81% khi truyền trong 3 giờ, như vậy việc tăng liều không có liên quan tuyến tính với việc tăng các thông số dược động.

    Sự khác biệt giữa người này và người khác khi dùng paclitaxel đường toàn thân rất ít. Không ghi nhận có hiện tượng tích tụ paclitaxel khi dùng nhiều đợt điều trị liên tiếp.

    Các nghiên cứu in vitro được thực hiện trên proteine huyết thanh người cho thấy tỷ lệ gắn với proteine trung bình từ 89 đến 98%. Khi dùng đồng thới với cimetidine, ranitidine, dexamethasone hay diphenhydramine, tỷ lệ gắn với proteine không bị thay đổi.

    – Chuyển hoá và thải trừ: Thể thức đào thải của paclitaxel ở người hiện chưa được biết rõ. Tỷ lệ đào thải qua thận dưới dạng không đổi từ 1,3 đến 12,6% liều dùng, cho thấy có sự thanh thải đáng kể ngoài thận. Các chất chuyển hóa chính được tìm thấy dưới dạng hydroxyl hóa. Sự chuyển hóa qua gan và đào thải qua mật dường như là cơ chế đào thải chính của paclitaxel. Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng trên sự chuyển hóa thuốc khi dùng truyền tĩnh mạch trong 3 giờ cho bệnh nhân bị suy gan hay suy thận. Các thông số dược động thu được ở bệnh nhân chạy thận được truyền Paclitaxel 135mg/m2 trong 3 giờ thì tương tự như ở bệnh nhân bình thường.

    Tác dụng :

    Paclitaxel là một tác nhân mới, ức chế sự phân rã mạng lưới vi thể của thoi nhiễm sắc; nó kích thích quá trình ghép các dimer của vi ống thành mạng lưới vi thể và ổn định mạng lưới vi thể bằng cách ngăn chặn quá trình tháo xoắn của chúng. Tính ổn định này ức chế sự tái tổ chức năng lượng bình thường của mạng lưới vi thể, một hiện tượng chủ yếu của chức năng sống của tế bào trong tiến trình gian kỳ và gián phân.

    Ngoài ra, paclitaxel còn gây sự hình thành không bình thường các nhóm hay bó của mạng lưới vi thể trong suốt chu kỳ của tế bào, và tổ chức quá trình phân chia thể sao của mạng lưới vi thể trong sự gián phân.

    Sự dung nạp và hiệu lực của Paclitaxel (135mg/m2 trong 24 giờ), sau đó dùng cisplatine (75mg/m2 ) đã được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi có kiểm soát (đối chiếu với cyclophosphamide 750mg/m2 , cisplatine 75mg/m2), nghiên cứu GOG 111/BMS CA 139-022. Nghiên cứu này được thực hiện trên 400 bệnh nhân bị ung thư buồng trứng nguyên phát với bệnh đã tiến triển, có bướu tồn lưu > 1cm) hay có di căn.

    Kết quả ghi nhận ở nhóm dùng Paclitaxel có hiệu quả tốt hơn đáng kể về thời gian kìm không cho ung thư phát triển (trên 3,5 tháng) và thời gian kéo dài sự sống (trên 11 tháng). Về dung nạp thuốc thì tương tự nhau giữa hai nhóm.

    Paclitaxel, với liều 175mg/m2 , được truyền tiếp theo đó bằng cisplatine 80mg/m2 được đánh giá qua 2 công trình nghiên cứu giai đoạn III ở những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa (367 bệnh nhân điều trị bằng Paclitaxel); cả hai đều là thử nghiệm ngẫu nhiên, trong đó một được so sánh với điều trị bằng cisplatine với liều 100mg/m2 , một sử dụng téniposide liều 100mg/m2 sau đó tiếp tục bằng cisplatine liều 80mg/m2 như là chất đối chiếu (có 376 bệnh nhân được dùng thuốc đối chiếu). Kết quả tương đương nhau giữa các thử nghiệm. Ðối với tiêu chuẩn đánh giá đầu tiên về ước lượng tử vong, giữa nhóm dùng Paclitaxel và nhóm dùng thuốc đối chiếu không có sự khác biệt đáng kể (thời gian kéo dài sự sống trung bình từ 8,1 đến 9,5 tháng đối với nhóm dùng Paclitaxel, 8,6 đến 9,9 tháng đối với nhóm dùng thuốc đối chiếu). Tương tự, thời hạn kéo dài cuộc sống mà ung thư không phát triển cũng không khác nhau đáng kể giữa các nhóm. Có một khác biệt đáng kể trên phương diện đáp ứng lâm sàng. Các kết quả khảo sát trên chất lượng sống cho thấy dùng Paclitaxel có lợi do ít làm mất cảm giác ngon miệng và ít gây các bệnh lý thần kinh ngoại biên.

    Chỉ định :

    Ung thư biểu mô buồng trứng:

    – Trị liệu đầu tay ung thư buồng trứng tiến xa hoặc bướu tồn lưu (> 1cm) sau phẫu thuật, dùng phối hợp với cisplatine.

    – Trong trị liệu thứ nhì, ung thư buồng trứng đã di căn, sau khi thất bại với phương pháp điều trị cổ điển bằng các dẫn xuất của platine.

    Ung thư biểu mô vú:

    – Trong điều trị hỗ trợ ung thư giai đoạn sớm, có hạch dương tính, dùng liên tiếp sau phác đồ có chứa doxorubicine.

    – Trong điều trị ung thư vú di căn đã thất bại với điều trị chuẩn hoặc tái phát sau khi điều trị hỗ trợ. Thường các điều trị trước đó có chứa anthracycline, trừ khi nào có chống chỉ định.

    Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:

    – Paclitaxel dùng chung với cisplatine, được chỉ định đầu tay để điều trị bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ở giai đoạn không thể phẫu thuật và/hoặc xạ trị được.

    Ngoài ra, Paclitaxel còn dùng để điều trị Ung thư Kaposi có liên quan đến bệnh AIDS.

    Liều lượng – cách dùng:

    Ðiều trị đầu tay ung thư biểu mô buồng trứng:

    Trong khi một số phác đồ điều trị khác đang được đánh giá, phác đồ được khuyến cáo là phối hợp Paclitaxel 175mg/m2 IV/3 giờ, sau đó cisplatine 75mg/m2, mỗi 3 tuần, hoặc Paclitaxel 135mg/m2 , trong 24 giờ, sau đó dùng cisplatine 75mg/m2 , với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị.

    Ðiều trị thứ nhì ung thư biểu mô buồng trứng và ung thư biểu mô vú :

    Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 175mg/m2 , trong 3 giờ, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đợt điều trị. Sau lần dùng Paclitaxel đầu, các liều sau đó nên được điều chỉnh tùy theo mức độ dung nạp của từng bệnh nhân.

    Ðiều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:

    Liều Paclitaxel được khuyến cáo là 175mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, sau đó cisplatine 80mg/m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa hai đợt điều trị. Sau liều đầu tiên, phải điều chỉnh lại liều lượng tùy theo sự dung nạp của bệnh nhân.

    Cho tất cả các chỉ định:

    Chỉ dùng Paclitaxel khi số lượng bạch cầu trung tính ≥ 1.500/mm3 và số lượng tiểu cầu ≥ 100.000/mm3 . Những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng (số lượng bạch cầu trung tính Trước khi dùng Paclitaxel, tất cả bệnh nhân phải được điều trị dự phòng bằng corticọde, thuốc kháng histamine và thuốc đối kháng thụ thể H2. Chẳng hạn có thể dùng 130mg prednisolone đường uống hoặc 20mg dexamethasone đường uống khoảng từ 12 đến 6 giờ trước khi truyền Paclitaxel, 5mg dexchlorpheniramine IV và 300mg cimetidine hoặc 50mg ranitidine IV 30 đến 60 phút trước khi truyền Paclitaxel.

    Paclitaxel phải được truyền nhờ vào một bộ phận lắp ống nối với một màng vi lọc có đường kính ≤ 0,22 micrometre.

    THỂ THỨC THAO TÁC

    Như với tất cả các thuốc chống ung thư, phải thận trọng khi thao tác với Paclitaxel. Người pha thuốc phải có kinh nghiệm và phải pha thuốc ở nơi qui định. Khi thao tác phải mang găng tay và tránh không để thuốc tiếp xúc với da hay niêm mạc. Nếu thuốc vấy vào da thì phải rửa ngay với nước và xà phòng. Nếu thuốc vấy vào niêm mạc thì phải rửa với nhiều nước. Có thể bị nóng rát và đỏ tại nơi thuốc vấy vào và giảm khi rửa với nước. Nếu lỡ hít thuốc vào sẽ có cảm giác khó thở, đau ngực, nóng rát ở họng và buồn nôn.

    Phải pha loãng Paclitaxel trước khi truyền bằng những kỹ thuật đảm bảo vô trùng.

    Có thể pha Paclitaxel trong các dung môi sau đây :

    – sodium chlorure 0,9%,

    – glucose 5%,

    – dung dịch glucose 5% và sodium chlorure 0,9%,

    – dung dịch glucose và dung dịch Ringer.

    Dung dịch pha phải được pha với thể tích đủ để đạt được nồng độ cuối cùng của Paclitaxel từ 0,3 đến 1,2mg/ml. Sau khi pha, các dung dịch có thể sử dụng được trong vòng 27 giờ, ở nhiệt độ môi trường (25 độ C) và có ánh sáng. Dung dịch sau khi pha loãng không được để trong tủ lạnh.

    Một số hiếm trường hợp thấy có cặn lắng trong quá trình truyền Paclitaxel, thường vào cuối giai đoạn truyền trong 24 giờ. Mặc dầu nguyên nhân gây ra hiện tượng này chưa được sáng tỏ, rất có thể là do hiện tượng quá bão hòa của dung dịch. Ðể làm giảm nguy cơ này, phải sử dụng Paclitaxel càng sớm càng tốt sau khi pha và trong quá trình truyền tránh làm lắc hay rung chai dịch truyền. Phải quan sát kỹ chai dịch truyền trong thời gian truyền và phải ngưng truyền nếu thấy xuất hiện cặn lắng.

    Sau khi pha, dung dịch có thể hơi bị đục do thành phần tá dược, không thể lọc được.

    Paclitaxel phải được truyền nhờ vào một bộ phận lắp ống nối với một màng vi lọc có đường kính Các túi hoặc bộ phận lắp ống có chất liệu bằng PVC có thể giải phóng chất di-(2-ethylhexyl)-phtalate (DEHP) khi tiếp xúc với Paclitaxel. Ðể tránh hiện tượng này, không được bảo quản dung dịch Paclitaxel trong các dụng cụ bằng PVC, mà phải dùng chai bằng thủy tinh hoặc polypropylene hoặc túi bằng polypropylene hoặc polyolefine, và khi truyền phải dùng hệ thống truyền dịch được tráng bằng một lớp polyethylene. Việc nối màng lọc bằng PVC ở đầu vô hay đầu ra của bộ phận lắp ống không làm giải phóng đáng kể DEHP.

    Hủy rác: tất cả các vật liệu tiếp xúc với Paclitaxel phải được hủy ở bệnh viện theo qui định đối với những loại rác độc với tế bào.

    Chống chỉ định :

    – Chống chỉ định Paclitaxel cho những bệnh nhân đã có phản ứng quá mẫn cảm nặng với paclitaxel hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc, đặc biệt là với huile de ricin polyoxyethylene (Crémophor EL).

    – Không được điều trị bằng Paclitaxel ở những bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính dưới 1.500/mm3 .

    – Phụ nữ có thai hay cho con bú.

    Tác dụng phụ

    Tần suất xuất hiện và độ nặng của các tác dụng ngoại ý đều giống nhau đối với các bệnh nhân có ung thư buồng trứng hoặc vú hay phổi không phải tế bào nhỏ.

    Các số liệu về dung nạp thuốc mô tả dưới đây được thu thập từ 95 bệnh nhân bị ung thư buồng trứng và 289 bệnh nhân bị ung thư vú và được điều trị với liều lượng và phác đồ truyền khuyến cáo (175mg/m2 , truyền trong 3 giờ) trong 3 thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn III.

    Sự dung nạp của thuốc cũng được đánh giá trong một thử nghiệm đối chiếu qui mô lớn (GOG 111), và trong một số thử nghiệm quan trọng giai đoạn III trên ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (truyền 3 giờ). Trừ trường hợp đặc biệt, phối hợp Paclitaxel và cisplatine hay việc truyền Paclitaxel trong 24 giờ không làm thay đổi sự dung nạp của Paclitaxel.

    Suy tủy là một tác dụng ngoại ý thường xảy ra nhất của Paclitaxel. Giảm bạch cầu trung tính nặng (dưới 500/mm 3 ) đã được ghi nhận trên 28% bệnh nhân không kèm theo giai đoạn sốt. Chỉ 1% bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng trong 7 ngày hoặc hơn. 24% bệnh nhân có giai đoạn bị nhiễm trùng. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn III, có hai trường hợp tử vong do nhiễm trùng đã được quan sát ở liều lượng và phác đồ truyền khuyến cáo (175mg/m2 , truyền trong 3 giờ).

    Giảm tiểu cầu đã được ghi nhận trên 11% bệnh nhân. 64% bệnh nhân bị thiếu máu trong đó có khoảng 6% được xem là nặng (Hb Trường hợp bị bệnh bạch cầu tủy và trường hợp bị hội chứng loạn sản tủy, hiếm khi xảy ra, đã được ghi nhận ngoài các thử nghiệm giai đoạn III.

    Chứng suy tủy ít xảy ra và ít nghiệm trọng hơn nếu thời gian truyền là 3 giờ so với 24 giờ. Khi phối hợp Paclitaxel và cisplatine truyền trong 24 giờ trong điều trị đầu tay ung thư buồng trứng, khả năng gây suy tủy sẽ cao hơn so với dùng riêng Paclitaxel hay Paclitaxel 175mg/m2 truyền trong 3 giờ, phối hợp với cisplatine.

    Các phản ứng quá mẫn nặng, đôi khi gây tử vong (tụt huyết áp cần được điều trị, phù mạch, suy hô hấp cần phải điều trị bằng thuốc giãn phế quản, mề đay toàn thân) đã xảy ra ở 2 bệnh nhân (dưới 1%). Các phản ứng quá mẫn nhẹ (chủ yếu là gây cơn bừng vận mạch, phát ban) không cần phải điều trị chuyên biệt và cũng không cần phải ngưng dùng Paclitaxel được ghi nhận ở 34% bệnh nhân.

    Hạ huyết áp (ở 22% bệnh nhân) và chậm nhịp tim (5% bệnh nhân) cũng có thể xảy ra trong quá trình truyền Paclitaxel nhưng thường vừa phải và không cần phải điều trị chuyên biệt.

    Trong các thử nghiệm lâm sàng ở liều lượng và phác đồ truyền khuyến cáo, có 17% bệnh nhân được ghi nhận là có điện tâm đồ bất thường. Trong đa số trường hợp, không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa việc dùng Paclitaxel và việc bất thường điện tâm đồ. Ảnh hưởng trên lâm sàng của những bất thường này được đánh giá là nhẹ.

    Một bệnh nhân (dưới 1%) bị cao huyết áp trong thời gian điều trị bằng Paclitaxel. Ngoài ra, có 2 bệnh nhân (dưới 1%) được ghi nhận là có những biểu hiện bị huyết khối nặng, huyết khối các đầu của chi trên và viêm huyết khối tĩnh mạch. Có 1 bệnh nhân được ghi nhận có hiện tượng tim mạch bao gồm: hạ huyết áp kèm theo sốc nhiễm trùng, bệnh lý cơ tim và nhịp tim nhanh kèm theo sốt. Trong các thử nghiệm đầu tiên được thực hiện ở liều và phác đồ truyền khác nhau, có 4 bệnh nhân (2%) có hiện tượng tim mạch nặng có thể có liên quan đến việc dùng Paclitaxel trong đó gồm nhịp nhanh thất không có triệu chứng, nhịp nhanh với nhịp mạch đôi, bloc nhĩ-thất và ngất.

    Một số hiếm trường hợp bị nhồi máu cơ tim được ghi nhận. Một số trường hợp suy tim sung huyết cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân đã được điều trị bằng hóa trị liệu trước đó, đặc biệt là nhóm anthracycline.

    Bệnh lý thần kinh ngoại biên, được biểu hiện chủ yếu bằng triệu chứng dị cảm, xảy ra ở 66% bệnh nhân, trong đó chỉ 5% bị nặng. Các triệu chứng thần kinh ngoại biên có thể xảy ra ngay sau lần dùng Paclitaxel đầu tiên và nặng lên trong các lần điều trị tiếp theo. Có 3 trường hợp phải ngưng điều trị. Các rối loạn về cảm giác thường giảm và khỏi vài tháng sau khi ngưng điều trị. Không cần phải chống chỉ định dùng Paclitaxel nếu bệnh nhân đã có bệnh lý thần kinh do việc điều trị trước đó. Trong những bệnh nhân được điều trị bằng Paclitaxel ngoài nhóm thử nghiệm ngẫu nhiên, đã ghi nhận một số trường hợp bị động kinh, rối loạn thị giác, bệnh lý não, bệnh lý thần kinh của hệ thần kinh tự động dẫn đến các trường hợp tắc ruột và tụt huyết áp tư thế. Một số rối loạn thần kinh mắt và/hoặc thị giác (ám điểm lập lòe) cũng được ghi nhận, đặc biệt là ở những bệnh nhân được cho dùng liều cao hơn liều khuyến cáo. Các tác dụng này thường phục hồi được.

    Ðau cơ và đau khớp xảy ra ở 60% bệnh nhân trong đó có 13% được xem là nặng.

    Rụng tóc xảy ra ở hầu hết tất cả bệnh nhân.

    Một số thay đổi tạm thời và nhẹ ở móng và da đã được ghi nhận.

    Các tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa ở mức độ từ nhẹ đến vừa được ghi nhận: buồn nôn và nôn (43%), tiêu chảy (28%) và viêm miệng (18%). Các tác dụng ngoại ý khác được ghi nhận ngoài thử nghiệm ngẫu nhiên gồm tắc/thủng ruột và huyết khối mạc treo ruột kể cả viêm ruột kết thiếu máu cục bộ.

    Ðã ghi nhận có tăng nhiều (trên 5 lần giá trị bình thường) men ASAT (SGOT) ở 5% bệnh nhân, phosphatase kiềm ở 4% bệnh nhân hay bilirubine ở ít nhất 1% bệnh nhân. Hoại tử gan và bệnh não do gan được ghi nhận ở một số bệnh nhân được điều trị bằng Paclitaxel ngoài thử nghiệm ở giai đoạn III.

    Các phản ứng tại điểm tiêm được ghi nhận trong thời gian truyền tĩnh mạch, có thể gây phù tại chỗ, cảm giác đau, hồng ban và chai cứng. Tùy trường hợp, tiêm thuốc trào ra khỏi mạch có thể gây viêm tế bào. Vùng da tại chỗ tiêm có thể mất màu. Phản ứng da hồi quy tại vùng da trước đó đã bị trào thuốc ra khỏi mạch sau khi dùng Paclitaxel sang một nơi khác rất hiếm khi được ghi nhận. Hiện nay chưa có biện pháp điều trị chuyên biệt các phản ứng do trào thuốc ra khỏi mạch.

    Các bệnh lý phổi bị viêm đã được ghi nhận ở những bệnh nhân được điều trị phối hợp với xạ trị.
    Lưu ý: Dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ

    Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.

    Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Paclitaxel- Belmed và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.

    Cần tư vấn thêm về Thuốc Paclitaxel- Belmed bình luận cuối bài viết.