AzThuoc.com chia sẻ bài viết về: Thuốc Lumalia công dụng, tác dụng phụ – liều lượng, Thuốc Lumalia điều trị bệnh gì. BÌNH LUẬN cuối bài để biết: Mua bán Thuốc Lumalia ở đâu? giá bao nhiêu? Vui lòng tham khảo các chi tiết dưới đây.
Lumalia

Thành phần:
| Nhà sản xuất: | Haupt Pharma Munster GmbH – ĐỨC | ||
| Nhà đăng ký: | Pierre Fabre Medicament | ||
| Nhà phân phối: |
Chỉ định:
Liều lượng – Cách dùng
Chống chỉ định:
Khi có thai hoặc đang cho con bú
Chảy máu âm đạo không rõ nguyên nhân;
Ưng thư vú hoặc nghi bị ung thư vú;
Cố hoặc bị nghi có các khối u liên quan đến hormon sinh dục;
Đã bị hay đang bị u gan (lành tính hoặc ác tính) hoặc các bệnh về gan trầm trọng khác;
Bị đau tim đột quỵ trong thời gian gan đây;
Đã hoặc đang mắc chứng nghẽn mạch huyết khối (dạng máu cục) trong mạch máu ở chân (nghẽn mạch huyết khối sâu) hoặc ở phổi (sự tắc mạch phổi);
Nguy cơ cao mắc huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch.
Có triglycerides trong máu (một dạng có mỡ trong máu đặc biệt);
Mần cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc
Tương tác thuốc:
Tương tác với các thuốc khác
Điều tri dài ngày bằng các thuốc tác động lên men gan (ví dụ một số loại thuốc chống co giật hoặc kháng virus) cố thể làm tăng SỊỊ thanh thải của các hormone sinh dục và làm giảm hiệu quả lâm sàng. Các thuốc tác động đến men gan bao gồm Hydantoins, Barbiturates, Primodone, Carbamazepine và Rifampicin, ngoài ra còn có thể bao gồm Oxcarbazepine, Topiramate, Felbamate và Griseofulvin, Tác dụng lớn nhất của thuốc này đến các men gan chỉ được nhận thấy sau 2 đên 3 tuần và có thể kéo dài đến 4 tuần sau khi ngùng dùng các thuốc nói trên
Một vài trường hợp hiếm, nồng độ Estradiol bị giảm xuống khi sừ dụng đồng thời một số thuốc kháng sinh. (Ví dụ Penicillin hoặc Tetracycline),
Các hoạt chất phải trải qua quá trình tiếp hợp (ví dụ Paracetamol) có thể làm tăng khả dụng sinh học của Estradiol bằng khả năng ức chế cạnh tranh của hệ thống tiếp hợp trong quá trình hấp thu.
Đối với một số trường hợp cụ thể, nhu cầu về thuốc uống chống đái đường hoặc Insulin có thể thay đổi do các ảnh hưởng củà sự đáp ứng dung nạp Glucose.
Tương tác với rượu
Sử dụng rươu trong quá trình điều trị liệu pháp hormone thay thế có thể dẫn đến tăng lượng Estradiol tuần hoàn.
Ảnh hưởng tới các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng:
Sử dụng các Steroid sinh dục có thể ảnh hưởng tới các chỉ số sinh hóa ví dụ chức năng gan, chức năng tuyến giáp, chức năng tuyến thượng thận và chức năng, thận, hàm lượng của các protein (chất vận chuyển) trong huyết tương như các globulin gắn kết với Corticosteroids và tỷ lệ Lipid/Lipoprotein, các chỉ sô chuyển hoá Carbonhydrate, chỉ số về đông máu và chảy máu
Tác dụng phụ:
Các tác dụng ngoại ý khác cũng được báo cáo ở những phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone; thay thế (các nghiên cứu hậu mài), tuy nhiên người ta chưa xác định được rằng chúng có mối liên quan đến thuốc hay không.
Thông thường (1/100-1/10)|Bất thường(1/10,000-1/1,000)
Rối loạn hệ miễn dịch Phản ứng quá mẫn
Rối loạn chuyển hoá và dinh dưỡng Tăng cân hoặc giảm cân
Rối loạn tâm thần Trạng thái trầm cảm Lo lắng, tăng hoặc giảm tình dục
Rối loạn hệ thần kinh Đau đầu Chóng mặt Đau nửa đầu
Rối loạn thị lực Rối loạn thị lực Không dung nạp với kính áp tròng
Rối loạn tim mạch Tim đập nhanh
Rối loạn hệ tiêu hoá Đau bụng, buồn nôn Đi ngoài Chướng bụng, nôn
Rối loạn da và tổ chức dưới da Phát ban, mẩn ngứa Chứng ban đỏ sẩn cục, mày đay Chứng rậm lông, trứng cá
Rối loạn cơ và khớp Chuột rút
Chú ý đề phòng:
Trong những trường hợp dùng thuốc này, phải thực hiện tránh thai được bằng các phương pháp không dùng hormon (trừ phương pháp tinh vòng kinh và đo nhiệt độ). Trong trường hợp nghi ngờ có thai, phải ngừng uống thuốc ngạy lập tức cho đến khi nguy cơ có thai được loại bỏ. Trước khi bắt đầu sự dụng liều pháp, cần cân nhắc các điều kiện và nguy cơ được liệt kê dưới đây để quyết định về lợi ích cùng như rủi ro khi điều trị cho bệnh nhân.
Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú
Không dung liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ có thai va cho con bú. Nếu có thai trong thời gian sử dụng Climen, nên ngừng điều trị ngay lập tức.
Nghiên cứu dịch tễ trên diện rộng về sử dụng hormone steroid cho thấy sự rủi ro không tăng lên đối với những đứa trẻ sinh ra ở những bà mẹ có sử dụng hormone trước khi có thai cũng như không có biểu hiện sinh quái thai đối với những bà mẹ sử dụng hormone trong thời gian đầu của thai kỳ.
Một lượng nho các hormone sinh dục được bài xuất vào trong sữa mẹ.
Khi đang điều trị bằng liệu pháp này, cần ngưng thuốc ngay lập tức nếu phát hiện chống chỉ định hoặc khi xuất hiện các tình trạng dưới đây:
Xuất hiện lần đầu tiên đau nửa đầu hoặc thỉnh thoảng hay thường xuyên đau đầu trầm trọng hoặc các triệu chứng khác báo trước nguy cơ tắc mạch não.
Sự tái phát của bệnh vàng da tắc mật hoặc ngứa do tắc mạch xuất hiện lần đầu tiên khi đang mang thai hoặc sử dụng các Steroid sinh dục trước đây.
Có tnệu chứng hoặc nghi vấn tắc mạch.
Trong trường hợp các nguy cơ này xuất hiện lần đầu hoặc tái xuất hiện, cần thực hiện phân tích lợi ích cũng như nguy cơ của liệu pháp này đồng thơi cân nhắc khả năng ngừng sử dụng liệu pháp hormon thay thế
Cần cân nhắc tới khả năng tăng cộng hợp nguy cơ huyết khối ở những phụ nữ cố đồng thời nhiều yếu tố nguy cơ hoặc có một yếu tố nguy cơ ở mức độ nặng. Điều này sẽ nghiêm trọng hơn nhiều chứ không chỉ đơn giản là tổng của các yếu tố nguy cơ. Không áp dụng trị liệu thay thế hormon (HRT) cho những trường hợp nguy cơ vượt trội lợi ích.
Nghẽn mạch huyết khối
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng HRT có thể liên quan đến sự tăng nguy cơ phát triển bệnh huyết tắc tình mạch (VTE), ví dụ như tắc khối tĩnh mạch sâu hoặc tắc mạch phổi, cần phải cân nhắc cẩn thận giữa nguy cơ và lợi ích của việc dùng thuốc và tư vấn cho bệnh nhân về nguy cơ rủi ro tắc khối tĩnh mạch khi sử dụng HRT ở phụ nữ.
Nhìn chung, những yếu tố rủi ro đối với huyết khối tĩnh mạch có thể được nhận biết bao gồm tiền sử cá nhân, tiền sử gia đình (xảy ra huyết khối tĩnh mạch ở những người cố quan hệ trực tiếp khi tuổi còn trẻ có thể chỉ ra khuynh hướng di truyền) và bệnh béo phì trầm trọng. Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch tăng theo tuổi. Không có sự nhất trí về vai trò có thể có của gian ‘tĩnh chất của tùng trường hợp và thời gian bất động, cần phải xem xét đến việc tạm thời ngừng dùng HRT.
Thuyên tắc huyết khối động mạch
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn đã được tiến hành khi kết hợp equine estrogen liên hợp (CEE: conjugated equine estrogens) và medroxyprogestogen acetate (MPA), loại hormon được sử dụng trong liệu pháp hormon thay thế cho thấy nguy cơ bệnh mạch vành (CHD: coronary heart disease) có thể tăng nhẹ trong năm đầu tiên sử dụng. Một thử nghiệm lâm sàng với CEE đơn thuần cho thấỵ có khả năng giảm tỉ lệ CHD ờ phụ nữ trong độ tuổi từ 50-59 và hoàn toàn không có lợi ích đối với toàn bộ nhóm dân số tham, gia nghiên cứu. Trong hai thử nghiêm, lâm sàng lớn với CEE đơn trị hoặc kết hợp với MPA, kết quả phụ cho thấy có sự tăng nguy cơ đột quỵ từ 30% đến 40%. Những phát hiện này hiện chưa xác định chắc chắn là có thể mở rộng áp dụng cho các sản phẩm hormon thay ‘thế (HRT: Hormone Replacement Therapy) khác hoặc áp dụng cho các đường dùng khác ngoài đường uống của cùng loại hormone này hay không.
Các bệnh của tủi mật
Estrogen đựợc cho là làm tăng nguy cơ hỉnh thành sỏi mật. Một số phụ nữ cố khả năng mắc các bệnh về túi mật trong thời gian sử dụng liệu pháp Estrogen.
Chứng mất trí nhớ
Các thử nghiệm lâm sàng với liều dùng có chứa CEE cho thấy rất ít khả năng làm tăng nguy cơ mất trí nếu bắt đầu sử dung liệu pháp hormon này ở những phụ nữ trên 65 tuổi. Trong một số nghiên cứu khác cho thấy nguy cơ này có thể giảm nếu điều trị được bắt đầu trong giai đoạn đầu của thời kỳ mãn kinh. Người ta chưa xác định được rằng những phát hiện này có tương tự như đối với các chế phẩm thay thế hormone khác hay không.
Khả năng sinh ung thư:
Ung thư vú
Theo dõi các nghiên cứu và triệu chứng trên lâm sàng cho thấy nguy cơ ung thư vú được chẩn đoán xác định tăng lên ở mức độ vừa phai đối với những phụ nữ đã sử dụng liệu pháp thay thê hormone trong vài năm. Sự phát hiện này có thể là do được chân đoán sớm hơn, dọ tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các khối u có sẵn, hoặc do cả hai. Đánh giá tổng quát mối liên hệ về nguy cơ đối với những trường hợp ung thư vú được chẩn đoán trong hơn 50 nghiên cứu dịch tễ học phần lớn các nghiên cứu được ghi nhận ở từ yếu tố ngụy cơ từ 1 đến 2.
Các nguy cơ cố liên quan tăng theo thời gian điều trị và có thể thấp hơn hoặc không tăng nêu điều trị bằng các sản phẩm chi chứa estrogen.
Hai thử nghiệm ngẫu nhiên đối với CEE đơn thuần hoặc kết hợp lớn với MPA cho thấy nguy cơ tương ưng là 0,77 (95% Cl; 0,59-1.01) hoặc 1,24 (95% Cl; 1,01-1,54) sau 6 năm sử dụng liệu pháp hormone thay thế, Người ta cũng không biết liệu nó có đúng vơi các chế phẩm thay thế hormone khác hay không.
Người ta cũng quan sát thấy nguy cơ ung thư vú đựợc chẩn đoán tăng lên tương tự trong một số trường hợp nhu: quá trình màn kinh tự nhiên diễn ra chậm, uống rượu, hoặc béo phì.
Sự tăng lên này mất đi trong một vài năm sau khi ngưng sư dụng HRT.
Liệu pháp horinon thay thế làm tăng mật độ của hình ảnh chụp tia X quang tuyến vú. Trong một vài trường hợp, điều này có thể làm ảnh hưởng đến sự phát hiện ung thư vú từ hỉnh ảnh chụp tia X quang.
Ung thư nội mạc tử cung:
Sử dụng lâu dài Estrogen đơn thuần có thể làm gia tăng nguy cơ xuất hiện tăng sinh nội mạc tử cung hoặc ung thư nội mạc tử cung. Các nghiên cứu cũng đã gợi ý rằng khi điều trị kết hợp với Progestogen sẽ làm giảm nguy cơ tăng sinh và/ hoặc ung thư nội mạc tử cung.
U gan
Trong một số hiếm trường hợp, xuất hiện u gan lành tính và hiếm hơn nữa là u gan ác tính cũng đã được báo cáo sau khi sử dụng các chế phẩm có chứa các hormone có thành phần giống với thuốc sử dụng trong liệu pháp thay thế hormone. Trong một vài trường hợp riêng lẻ có thể xảy ra xuất huyết nặng trọng ổ bụng đe doạ tính mạng bệnh nhân. Nên nghĩ đến khả năng có khối u gan băng các chẩn đoán phân biệt trọng trường hợp có triệu chứng đau vùng bụng trên, gan to hoặc có dấu hiệu chảy máu trong ổ bụng.
Các triệu chứng khác:
Mối liên hệ giữa việc sử dụng HRT và bệnh tăng huyết áp trên lâm sàng chưa được xác định. Hiên tượng tăng nhẹ huyết áp ở những phụ nữ sử dụng HRT cũng đã được báo cáo. Thường hiếm khi có biểu hiện trên lâm sàng. Tuy nhiên, nếu trong một so trường hợp các dấu hiệu tăng huyết áp trên lâm sàng kéo dài liên tục trong thời gian sử dụng HRT, có thể phải ngưng sử dụng thuốc.
Các trường hợp có rối loạn chức năng gan không trầm trọng, bao gồm cả tăng bilirubin trong mậu như hội chứng Dubin- Johnson hoặc hội chứng Rotor, cần phải được theo dõi chặt chẽ và kiểm tra chức năng gan định kỳ. Trong trường hợp các chỉ số về chức nằng gan tăng lền, nên ngưng sử dụng HRT.
Đối với nhưng phụ nữ cố chỉ số triglyceride tăng ở mức độ vừa phải cần đặc biệt theo dõị.
Việc sử dụng HRT đối những phụ nữ này có thể làm tăng thêm chỉ số Triglyceride, cố thể gây nên nguy cơ viêm tuỵ cấp.
Mặc dù sử dụng HRT có thể ảnh hưởng đến sự kháng lại insulin ờ ngoại vi vậ độ dung nạp Glucose, nhìn chung không cần điều chỉnh liều dùng của các thuốc điều trị tiểu đường trong thời gian sử dụng HRT. Tuy nhiên những phụ nữ mắc bệnh tiểu đường cần được theo dõi cần thận trong thời gian sử dụng HRT. Một số trường hợp nhất định có thể xuất hiện dấu hiệu kích thích hệ estrogenic trong thời gian sử dụng HRT như chảy máu tử cung bất thường. Chảy máu âm đạo bất thường thường xuyên hoặc dai dẳng trong qua trình điều trị có thể là một dấu hiệu để đánh giá tình trạng nội mạc tử cung.
Nếu việc điều trị kinh nguyệt bất thương không có hiệu quả, cần phải áp dụng các chẩn đoán thích hợp để loại trừ các bệnh của các cơ quan khác.
Kích thước của tử cung có thể tăng lên do tác dụng của Estrogen. Nếu xuất hiện dấu hiệu này, nên ngưng sử dụng HRT.
Nếu hiện tượng lạc nội mạc tử cung xuất hiện trở lại trong thời gian điều trị thì nên ngưng sử dụng HRT.
Cần theo dõi y tế chặt chẽ (bao gồm cả định kỳ kiểm tra nồng độ prolactin) ở những bệnh nhân bị tiết prolactin
Hiện tượng sạm da thường rất hiếm khi xảy ra, thường gặp ở những bệnh nhân có tiền sử sạm da trong thai kỳ. Những phụ nữ có xu hướng bị sạm da nên tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mạt trời hoặc tia cực tim trong thời gian sử dụng HRT.
Các dấu hiệu sau đây cũng đã đươc báo cáo là có thể xảy ra hoặc trở nên xấu đi khi sử dụng HRT. Tuy nhiên, nó không cho thấy có sự liên quan rõ rang đến việc sử dụng HRT, những phụ này cần dược theo dõi chặt chẽ trong thòi gian sử dụng HRT:
Động kinh
Cắc bệnh lành tính ở vú
Hen phế quản
Đau nửa đầu
Porphyrin niệu
Loang xương
Lupus ban đo hệ thống.
Mua vờn nhẹ
Ở những phụ nữ cố hiện tượng phù mạch ngoại sinh do di truyền, Estrogen có thể gây ra hoặc làm trầm họng thêm các triệu chứng phù mạch.
Thăm khám toàn thân:
Cần hỏi, rõ đầy đủ tiền sử bệnh tật của bệnh nhân và tiến hành thăm khám nội khoa trước khi bắt đầu hoặc trước khi tái sử dụng liệu pháp hormone thay thế, thực hiện theo định kỳ những hướng dẫn ở mục chống chỉ định và cảnh báo. Tần suất và tính chất thăm khám này cần phải dựa vào những kinh nghiệm thực tế và áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể tuy nhiên phải bão gồm thăm khám co tử cung, làm tế bào học cổ tử cung, khám bụng, vú và đo huyết áp.
Thông tin thành phần Cyproterone
Dược lực:
Tác dụng :
Ở đàn ông, khi điều trị bằng Cyproterone, ham muốn và khả năng tình dục sẽ giảm đi và chức năng sinh dục bị ức chế. Những thay đổi này có thể hồi phục sau khi ngưng điều trị. Cyproterone cũng bảo vệ những cơ quan phụ thuộc androgen, như tiền liệt tuyến khỏi bị ảnh hưởng của androgen có nguồn gốc từ các tuyến sinh dục và/hoặc từ vỏ thượng thận.
Ở phụ nữ, giảm chứng rậm lông, giảm chứng rụng tóc (phụ thuộc androgen) và tình trạng tăng chức năng tuyến bã phụ thuộc androgen. Trong lúc điều trị bằng Cyproterone, chức năng buồng trứng bị ức chế.
Chỉ định :
– Ðiều trị kháng androgen trong ung thư tiền liệt tuyến tiến triển (quá chỉ định phẫu thuật).
Liều lượng – cách dùng:
– Giảm ham muốn trong trường hợp sai lạc về tình dục:
Bác sĩ sẽ xác định liều cho từng người: Uống thuốc với một ít nước sau bữa ăn. Thông thường bắt đầu điều trị với 1 viên, ngày uống 2 lần. Khi cần, có thể tăng liều đến 2 viên, ngày 2 lần, hoặc 2 viên, ngày 3 lần trong một thời gian ngắn. Khi đạt được kết quả mong muốn, cố gắng duy trì hiệu quả điều trị này với liều thấp nhất. Thường dùng nửa viên, ngày 2 lần là đủ. Khi xác lập được liều duy trì hay khi ngưng điều trị, không nên giảm liều đột ngột, mà phải giảm từ từ. Nên giảm liều hàng ngày khoảng 1 viên, hay tốt hơn là giảm nửa viên, với khoảng cách vài tuần lễ. Ðể ổn định hiệu quả điều trị, cần phải dùng Cyproterone trong một thời gian dài; nếu có thể, nên dùng đồng thời với những biện pháp về tâm lý trị liệu.
– Ðiều trị kháng androgen trong ung thư tiền liệt tuyến không thể phẫu thuật:
Ðể loại trừ hiệu quả của androgen từ tuyến thượng thận sau khi cắt bỏ tinh hoàn:
2 viên, 1 đến 2 lần mỗi ngày (= 100-200mg).
Không cắt bỏ tinh hoàn: 2 viên, 2 đến 3 lần mỡi ngày (= 200-300mg).
Uống thuốc với một ít nước sau bữa ăn.
Ðiều trị và liều dùng đã được bác sĩ ghi toa không nên thay đổi hay ngưng dùng sau khi có cải thiện hay thuyên giảm bệnh. Ðể giảm tình trạng tăng lượng hormone sinh dục nam lúc ban đầu trong chế độ điều trị bằng các thuốc đồng vận LH-RH:
Khởi đầu, 2 viên Cyproterone, 2 lần mỗi ngày (= 200mg) trong 5-7 ngày. Sau đó, 2 viên Cyproterone, 2 lần mỗi ngày trong 3-4 tuần cùng với 1 thuốc đồng vận LH-RH với liều dùng do nhà sản xuất khuyến cáo
Ðể loại trừ tác dụng của androgen từ thượng thận trong điều trị bằng các thuốc đồng vận LH-RH :
Tiếp tục điều trị bằng kháng androgen với 2 viên Cyproterone, 1-2 lần mỗi ngày (= 100-200mg)
Phụ nữ:
Phụ nữ có thai không được dùng Cyproterone. Do đó phải chắc chắn không có thai trước khi bắt đầu điều trị.
– Những dấu hiệu của chứng nam hóa, thí dụ rậm lông nhiều, rụng tóc nhiều phụ thuộc androgen cuối cùng bị hói đầu (chứng rụng tóc androgen di truyền), các dạng nặng của mụn trứng cá và/hoặc tăng tiết bã nhờn :
Ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, bắt đầu điều trị vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt (= ngày thứ nhất có kinh). Chỉ ở phụ nữ bị vô kinh mới có thể bắt đầu điều trị theo toa ngay (không để ý đến chu kỳ kinh). Trong trường hợp này, ngày đầu tiên của điều trị xem như ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt và những yêu cầu sau đó được xem như trường hợp bình thường.
Uống 2 viên Cyproterone mỗi ngày, uống với một ít nước sau bữa ăn từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 10 của chu kỳ kinh nguyệt (uống 10 ngày). Ngoài ra, những phụ nữ này phải uống 1 thuốc có progestogen và estrogen, thí dụ từ ngày thứ 1-21 của chu kỳ uống 1 viên Diane-35 mỗi ngày, để tránh có thai và ổn định chu kỳ kinh nguyệt.
Phụ nữ đang điều trị kết hợp theo chu kỳ nên có một thời điểm đặc biệt trong ngày để uống thuốc. Nếu đã qua thời điểm này hơn 12 giờ, tác dụng ngừa thai trong chu kỳ này bị giảm đi.
Tuy nhiên, việc dùng Cyproterone và Diane-35 vẫn tiếp tục đi theo hướng dẫn, đừng để ý đến viên thuốc bị quên, để tránh xuất huyết sớm trong chu kỳ này. Tuy nhiên, phương pháp ngừa thai không dùng nội tiết tố (với ngoại lệ : phương pháp tính theo chu kỳ và phương pháp theo dõi nhiệt độ) phải được áp dụng thêm vào thời gian còn lại của chu kỳ kinh nguyệt.
Có khoảng thời gian 7 ngày không uống thuốc sau 21 ngày, trong thời gian này sẽ xảy ra xuất huyết do ngưng thuốc. Ðúng 4 tuần sau ngày bắt đầu điều trị, thí dụ cũng vào ngày tương tự trong tuần, chu kỳ điều trị kế tiếp được bắt đầu, bất kể kinh đã hết hay chưa. Nếu không xảy ra xuất huyết trong thời gian 7 ngày không uống thuốc này, phải hỏi ý kiến bác sĩ.
Sau khi có cải thiện về lâm sàng, bác sĩ có thể giảm liều hàng ngày của Cyproterone trong thời gian 10 ngày đầu của đợt điều trị kết hợp với Diane-35 đến 1 hay nửa viên. Có thể chỉ dùng Diane-35 cũng đủ.
Khi áp dụng điều trị kết hợp theo chu kỳ, hãy chú ý đến những ghi chú đặc biệt trong toa hướng dẫn sử dụng thuốc Diane-35, là thuốc dùng kết hợp với Cyproterone.
Ở bệnh nhân mãn kinh hay đã cắt tử cung, có thể chỉ dùng Cyproterone đơn thuần. Tùy theo độ nặng của các triệu chứng, liều trung bình là 1 đến nửa viên Cyproterone, 1 lần mỗi ngày, trong 21 ngày, sau đó là khoảng thời gian 7 ngày không dùng thuốc.
Chống chỉ định :
Ở bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến mà tiền sử có các quá trình huyết khối nghẽn mạch hay bị thiếu máu hồng cầu hình liềm hay có đái tháo đường nặng với những thay đổi ở mạch máu, phải xem xét cẩn thận nguy cơ và lợi ích của việc dùng Cyproterone cho từng trường hợp trước khi ghi toa thuốc này.
Khi điều trị kết hợp theo chu kỳ, các dấu hiệu nặng của chứng nam hóa, cần phải chú ý đến những thông tin về chống chỉ định có trong hướng dẫn sử dụng thuốc Diane-35, là thuốc dùng kèm với Cyproterone.
Tác dụng phụ
Ở bệnh nhân nam, đôi khi Cyproterone dẫn đến tình trạng vú to (thỉnh thoảng kèm cảm giác đau khi sờ vào núm vú). Triệu chứng này thường giảm dần sau khi ngưng thuốc.
Ở phụ nữ, sự rụng trứng bị ức chế khi được điều trị kết hợp, để tạo ra tình trạng vô sinh. Cảm giác căng vú có thể xảy ra.
Ở vài trường hợp riêng lẻ, rối loạn chức năng gan, một số rối loạn này có thể trầm trọng, đã được ghi nhận khi dùng Cyproterone liều cao.
Mệt mỏi, giảm sinh khí, và đôi khi có cảm giác bồn chồn tạm thời hay trạng thái trầm cảm có thể xảy ra. Có thể thay đổi thể trọng.
Thông tin thành phần Ethinyl estradiol
Dược động học :
Phân bố: Liên kết với protein huyết tương ( trên 90%),chủ yếu là globulin. Thuốc qua được sữa mẹ và có chu kỳ gan- ruột.
Thải trừ: chủ yếu qua thận.
Chỉ định :
Ðiều trị vô kinh và thiểu kinh do suy chức năng buồng trứng, băng huyết và đa kinh, đau kinh, cai sữa, mụn trứng cá và ung thư tiền liệt tuyến.
Điều trị bệnh nam hoá( phụ nữ mọc râu, trứng cá).
Điều trị rối loạn kinh nguyệt.
Liều lượng – cách dùng:
-Trong trường hợp đau kinh uống 1 viên/ngày trong 20 ngày, mỗi 2 hoặc 3 tháng. Việc dùng thuốc nên bắt đầu từ ngày thứ 4-5 của chu kỳ kinh.
-Ðể cai sữa uống 1 viên/ngày trong 3 ngày sau khi sinh, 3 ngày tiếp theo uống 3 x 1/2 viên/ngày, 3 ngày tiếp theo nữa uống 1/3 viên/ngày.
-Trong bệnh mụn trứng cá uống 1 viên/ngày.
-Điều trị ung thư tiền liệt tuyến 3 x 1-2 viên/ngày, liều này có thể giảm dần cho đến liều duy trì 1 viên/ngày.
Chống chỉ định :
Cao huyết áp.
Tác dụng phụ
Với liều cao hơn tăng nguy cơ nghẽn mạch, rám da, vàng da ứ mật, xuất huyết nhiều và bất ngờ, xuất huyết lấm tấm, dị ứng da.
Chứng vú to và giảm tình dục ở nam giới.
Nguồn tham khảo drugs.com, medicines.org.uk, webmd.com và azthuoc.com tổng hợp.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm y tế
Nội dung của AZThuoc.com chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về Thuốc Lumalia và không nhằm mục đích thay thế cho tư vấn, chẩn đoán hoặc điều trị y tế chuyên nghiệp. Vui lòng liên hệ với bác sĩ hoặc phòng khám, bệnh viện gần nhất để được tư vấn. Chúng tôi miễn trừ trách nhiệm y tế nếu bệnh nhân tự ý sử dụng thuốc mà không tuân theo chỉ định của bác sĩ.
Cần tư vấn thêm về Thuốc Lumalia bình luận cuối bài viết.
Để lại một bình luận