Tổng hợp các thuốc điều trị nhiễm trùng

0
46
Tổng hợp các thuốc điều trị nhiễm trùng
Tổng hợp các thuốc điều trị nhiễm trùng
p>Vào năm 1880, nhà khoa học người Pháp Louis Pasteur đã chứng minh được rằng chính các vi khuẩn là nguyên nhân thật sự gây ra nhiều căn bệnh. Nhiễm trùng là tình trạng sức khỏe rất phổ biến, có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân ở mọi lứa tuổi. Vậy có thuốc nào để điều trị các loại nhiễm trùng không? Mời bạn tham khảo bài viết sau đây.
Tổng hợp các thuốc điều trị nhiễm trùng
Tổng hợp các thuốc điều trị nhiễm trùng

Nhiễm trùng là gì?

Định nghĩa nhiễm trùng (còn gọi là nhiễm khuẩn) là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng… đối với cơ thể, dẫn tới các phản ứng tế bào, tổ chức hoặc phản ứng toàn thân. Thông thường, biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc.

Nhiễm trùng có thể tại một vị trí cố định hoặc đi theo đường máu lan khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số vi sinh vật tự nhiên sống trong cơ thể không được xem là nhiễm trùng, ví dụ: vi khuẩn thường trú trong miệng và ruột. Vi khuẩn và virus không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhau và thường lây lan theo những con đường giống nhau. Đây là điểm tương đồng duy nhất giữa vi khuẩn và virus. Việc phân biệt nhiễm trùng do vi khuẩn và virus rất quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh:

  • Vi khuẩn là một thể duy nhất, chúng là tế bào rất phức tạp và có thể tự tồn tại bên trong hoặc bên ngoài cơ thể. Hầu hết các vi khuẩn không có hại. Trong thực tế, có nhiều vi khuẩn thường trú trên da và trong cơ thể của chúng ta, đặc biệt là trong ruột giúp tiêu hóa thức ăn.
  • Virus có kích thước nhỏ hơn và có cấu tạo không phải là tế bào. Không giống như vi khuẩn, virus cần một vật chủ như con người hay động vật để nhân lên. Virus gây nhiễm trùng bằng cách nhập vào nhân bên trong các tế bào khỏe mạnh của vật chủ.

Nguyên nhân gây nhiễm trùng là gì?

  • Nguyên nhân gây nhiễm trùng là do vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể.
  • Các tác động của nhiễm trùng, chẳng hạn như sưng hoặc chảy nước mũi, xảy ra do hệ thống miễn dịch cố gắng loại bỏ các sinh vật xâm nhập.
  • Một vết thương đầy mủ xuất hiện khi các tế bào bạch cầu di chuyển đến vị trí chấn thương để chống lại vi khuẩn lạ.

Triệu chứng nhiễm trùng là gì?

Các triệu chứng nhiễm trùng có thể khác nhau tùy thuộc vào loại nhiễm trùng mà bạn có. Một số triệu chứng chung bạn có thể mắc như:

  • Sốt hoặc ớn lạnh
  • Đau nhức cơ thể
  • Cảm thấy mệt mỏi
  • Ho hoặc hắt hơi
  • Rối loạn tiêu hóa, chẳng hạn như buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy

Một số loại nhiễm trùng có thể không gây ra bất cứ triệu chứng nào.

Đến gặp bác sĩ nếu bạn có:

  • Các triệu chứng xấu đi hoặc không được cải thiện khi chăm sóc tại nhà
  • Các triệu chứng kéo dài hoặc tái phát
  • Khó thở
  • Đau đầu dữ dội xảy ra khi sốt cao
  • Phát ban
  • Sưng không giải thích được
  • Một vết cắn từ động vật

Phân loại nhiễm trùng theo vị trí bệnh

Nhiễm trùng có thể được phân loại theo vị trí giải phẫu của cơ quan bị nhiễm bệnh, bao gồm:

  • Nhiễm trùng đường tiết niệu
  • Nhiễm trùng da
  • Nhiễm trùng đường hô hấp
  • Nhiễm trùng có nguồn gốc trong hay các mô xung quanh răng
  • Nhiễm trùng âm đạo
  • Nhiễm trùng ối.

Phân loại các thể bệnh nhiễm trùng

  • Nhiễm trùng đơn độc: nhiễm trùng do 1 loại mầm bệnh gây nên.
  • Nhiễm trùng phối hợp: nhiễm trùng do hai hoặc nhiều loại mầm bệnh gây nên.
  • Nhiễm trùng thứ phát: nhiễm trùng trên cơ thể bị suy yếu do một nhiễm trùng khác (nhiễm nấm Candida thứ phát trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS…).
  • Nhiễm trùng cục bộ: nhiễm trùng tập trung tại một vị trí nhất định.
  • Nhiễm trùng toàn thân.
  • Nhiễm trùng cấp tính (cấp diễn): cúm, lỵ…
  • Nhiễm trùng mạn tính (trường diễn).

Các thể nhiễm trùng khác như: nhiễm trùng tái nhiễm, nhiễm trùng phôi thai (bệnh giang mai bẩm sinh), nhiễm trùng điển hình và không điển hình, nhiễm trùng chậm (nhiễm virus HIV), nhiễm trùng phân tử (do các acid nucleic. của virus xâm nhập vào cơ thể có thể gây bệnh).

Biện pháp phòng tránh các bệnh nhiễm trùng

Không có phương pháp duy nhất để ngăn ngừa tất cả các bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, mọi người nên thực hiện các bước sau để giảm nguy cơ lây truyền:

  • Rửa tay thường xuyên, đặc biệt là trước và sau khi chuẩn bị thức ăn hoặc sau khi sử dụng phòng tắm.
  • Làm sạch các khu vực bề mặt và tránh giữ thực phẩm dễ hỏng ở nhiệt độ phòng quá lâu.
  • Cho trẻ tiêm đầy đủ vắc xin cần thiết.
  • Chỉ dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ và chắc chắn hoàn thành quá trình điều trị, ngay cả khi các triệu chứng cải thiện sớm hơn.
  • Khử trùng những nơi có thể có mật độ vi khuẩn cao, chẳng hạn như nhà bếp và phòng tắm.
  • Giảm nguy cơ nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) bằng cách kiểm tra bệnh thường xuyên, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.
  • Tránh dùng chung vật dụng cá nhân, như bàn chải đánh răng, lược, lưỡi dao cạo, kính mắt và dụng cụ nhà bếp.
  • Làm theo lời khuyên của bác sĩ về việc cách ly và nghỉ ngơi trong thời gian điều trị để tránh lây nhiễm cho người khác.
  • Xây dựng một lối sống năng động, chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng có thể giúp giữ cho hệ thống miễn dịch mạnh mẽ và bảo vệ cơ thể phòng thủ chống lại các loại nhiễm trùng khác nhau.

Phương pháp điều trị bệnh nhiễm trùng bằng thuốc

Nhiễm trùng đường tiết niệu

Nhiễm trùng đường tiết niệu (Urinary tract infection – UTI) là nhiễm trùng của bất kỳ cơ quan nào trong hệ tiết niệu, bao gồm hai thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng liên quan đến phần dưới hệ tiết niệu – bàng quang và niệu đạo.

Hiện nay có một số thuốc sát khuẩn đường tiết niệu thường gặp gồm có:

  • Doxycycline: Đây là thuốc kháng sinh thuộc nhóm tetracycline có tác dụng điều trị viêm đường tiết niệu gây ra bởi chlamydia trachomatis và mycoplasma hominis. Thuốc có ở cả dạng uống và thuốc tiêm.
  • Kháng sinh Trimethoprim: Là thuốc có tác dụng kìm khuẩn bằng cách ức chế enzyme dihydrofolate-reductase của vi khuẩn, thường được phối hợp với sulfamethoxazole giúp tăng cường khả năng kháng khuẩn. Thuốc có ở dạng uống và dạng nước.
  • Mictasol Bleu 20 mg: Là thuốc sát khuẩn nhẹ giúp tiêu diệt vi khuẩn ở đường tiết niệu thường được sử dụng kết hợp với Augmentin.
  • Cephalexin: Là thuốc kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ 1. Có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn như E.coli, Proteus mirabilis.

Nhiễm trùng da

Nhiễm trùng da và mô mềm là tình trạng viêm cấp tính của da và mô mềm thường do các vi khuẩn ký sinh trên da như tụ cầu, liên cầu,… gây ra khi có các yếu tố thuận lợi với các đặc điểm sưng nóng đỏ đau vùng da và phần mềm bị tổn thương.

Phân loại theo Hiệp hội bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) gồm năm loại:

  • Nhiễm trùng bề mặt da.
  • Nhiễm trùng đơn giản: chốc, viêm quầng, viêm mô tế bào.
  • Nhiễm trùng hoại tử.
  • Nhiễm trùng liên quan đến vết cắn của thú vật.
  • Nhiễm trùng liên quan đến phẫu thuật và suy giảm miễn dịch.

Nguyên tắc điều trị

Loại bỏ tình trạng nhiễm trùng bằng kháng sinh phù hợp và chăm sóc vết thương. Phòng ngừa tình trạng nhiễm trùng lan rộng.

Kháng sinh nên điều trị ngay trước khi có kết quả kháng sinh đồ, có thể dựa trên phân độ Eron:

  • Độ I: kháng sinh đường uống: dicloxacillin, erythromycin, cephalexin, augmentin, clindamycin.
  • Độ II và độ III: kháng sinh đường toàn thân: nafcillin hoặc oxacillin (1-2g/4h/ngày); clindamycin (600mg/8h/ngày), vancomycin (30mg/kg chia 2 lần/ngày). MRSA: vancomycin, linezolid, daptomycin.
  • Độ III-IV: phối hợp các kháng sinh, hoặc với meropenem, ertapenem, imipenem.
  • Đánh giá đáp ứng lâm sàng sau 48-72 giờ, sau đó điều chỉnh kháng sinh theo kháng sinh đồ.

Nhiễm trùng đường hô hấp

Nhiễm trùng do virus thường ảnh hưởng đến đường hô hấp trên hoặc dưới. Mặc dù nhiễm trùng đường hô hấp có thể được phân loại theo virus gây bệnh (ví dụ: cúm), các nhiễm trùng này thường được phân loại trên lâm sàng theo hội chứng (ví dụ: cảm lạnh thông thường, viêm tiểu phế quản, viêm thanh quản, viêm phổi). Mặc dù tác nhân gây bệnh đặc hiệu thường gây ra các biểu hiện lâm sàng đặc trưng (ví dụ: rhinovirus thường gây cảm lạnh thông thường, virus hợp bào hô hấp [RSV] thường gây viêm tiểu phế quản), mỗi tác nhân có thể gây ra nhiều hội chứng hô hấp do virus.

Điều trị

  • Điều trị hỗ trợ
  • Đôi khi dùng các loại thuốc kháng virus

Điều trị nhiễm trùng đường hô hấp do virus thường là điều trị hỗ trợ.

Các loại thuốc kháng sinh không có hiệu quả chống lại các tác nhân gây bệnh là virus và cũng không được khuyến cáo cho việc phòng ngừa nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Chỉ nên dùng kháng sinh khi phát sinh các nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Trên những bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính, có thể cho dùng thuốc kháng sinh với ít hạn chế hơn.

Không nên dùng Aspirin cho bệnh nhân ≤ 18 tuổi và bị nhiễm trùng đường hô hấp vì có nguy cơ bị hội chứng Reye.

Một số bệnh nhân tiếp tục ho trong nhiều tuần sau khi khỏi nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI); những triệu chứng này có thể giảm đi khi sử dụng thuốc giãn phế quản dạng hít hoặc các corticosteroid.

Trong một số trường hợp, thuốc kháng virus rất hữu ích:

  • Oseltamivir và zanamivir có hiệu quả đối với bệnh cúm.
  • Ribavirin, một loại thuốc tương tự guanosine có tác dụng ức chế quá trình sao chép nhiều loại virus RNA và DNA, có thể được cân nhắc sử dụng cho những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới do RSV.
  • Palivizumab, một kháng thể đơn dòng kháng protein hợp nhất của RSV, đang được sử dụng để phòng ngừa nhiễm RSV ở một số trẻ sơ sinh có nguy cơ cao.

Nhiễm trùng có nguồn gốc trong hay các mô xung quanh răng

Nhiễm khuẩn răng miệng thường xảy ra do sâu răng và vệ sinh răng miệng kém. Tuy nhiên, tình trạng này cũng có thể do các can thiệp nha khoa trước đó hoặc những chấn thương vào vùng răng hàm mặt. Cho dù là nguyên nhân gì, việc điều trị nhiễm khuẩn răng miệng nhờ vào vai trò của các loại kháng sinh là chủ yếu.

Chi tiết các nhóm kháng sinh dùng để điều trị nhiễm khuẩn răng miệng được trình bày sau đây:

Nhóm Penicillin

  • Penicillin là nhóm kháng sinh phổ biến trong điều trị nhiễm trùng răng miệng. Amoxicillin cũng là một kháng sinh quen thuộc nằm trong nhóm Penicillin. Tuy vậy, một số nha sĩ cũng có thể khuyên dùng amoxicillin phối hợp với axit clavulanic nhằm giúp loại bỏ vi khuẩn có men chống lại kháng sinh.
  • Tuy nhiên, do có từ lâu đời và là một nhóm kháng sinh “kinh điển”, một số vi khuẩn có thể kháng lại các kháng sinh trong nhóm Penicillin, khiến chúng trở nên kém hiệu quả hơn. Vì thế, trên thực tế, nhiều bác sĩ hiện chọn các loại kháng sinh khác là phương pháp điều trị đầu tiên thay vì nhóm Penicillin.
  • Trong trường hợp kháng sinh nhóm Penicillin được lựa chọn, cần lưu ý tiền căn từng bị dị ứng với các loại thuốc này.

Clindamycin

  • Clindamycin có hiệu quả chống lại một loạt các vi khuẩn gây nhiễm trùng, bao gồm cả nhiễm khuẩn răng miệng. Thậm chí, đây còn là nhóm thuốc chữa nhiễm khuẩn răng miệng được khuyên dùng đầu tiên vì vi khuẩn có thể ít kháng thuốc này hơn so với nhóm penicillin.
  • Liều lượng clindamycin điển hình là 300 mg hoặc 600 mg mỗi 8 giờ.

Azithromycin

  • Azithromycin có cơ chế hoạt động chống lại nhiều loại vi khuẩn bằng cách ngăn chặn sự phát triển của chúng. Vì thế, thuốc cũng có hiệu quả trong điều trị một số bệnh nhiễm trùng răng miệng. Tuy nhiên, các tình huống được nha sĩ chỉ định Azithromycin là đối với những người bị dị ứng thuốc thuộc nhóm penicillin hoặc tình trạng nhiễm trùng không đáp ứng với những thuốc nêu trên.
  • Liều azithromycin điển hình là 500 mg mỗi 24 giờ trong 3 ngày liên tiếp.

Metronidazole

  • Metronidazole là một loại kháng sinh rất thường được chỉ định trong trường hợp nghi ngờ tình trạng nhiễm trùng là do tác nhân kỵ khí gây ra. Chính vì thế, thuốc này không phải là lựa chọn điều trị đầu tiên hay đơn độc mà thường phối hợp với các nhóm kháng sinh khác.
  • Liều dùng cho metronidazole là khoảng 500 đêm 750 mg mỗi 8 giờ.

Nhiễm trùng âm đạo

Viêm âm đạo (hay nhiễm trùng âm đạo) là bệnh lý viêm nhiễm ở âm đạo của phụ nữ. Theo thống kê, có đến một phần ba số phụ nữ có biểu hiện triệu chứng viêm âm đạo trong cuộc đời. Bệnh có thể xảy đến với phụ nữ ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là trong độ tuổi sinh sản.

Do tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi trùng kị khí nên các phác đồ sau có thể được lựa chọn:

  • Metronidazole 500 mg: uống 2 lần /ngày x 7 ngày.
  • Metronidazole gel 5 g: bôi âm đạo 2 lần /ngày x 5 ngày.
  • Tinidazol 2 g: uống /ngày x 2 ngày hoặc 1 g uống /ngày trong 5 ngày.
  • Clindamycin 300 mg: uống 2 lần /ngày x 7 ngày. Đối với các thai phụ, trên thế giới vẫn khuyến cáo có thể sử dụng Metronidazol hoặc Clindamycin uống với liều tương tự. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh hiệu quả  của việc điều trị cũng như các tác dụng phụ trên thai nhi. Vì thế, đường đặt thuốc tại chỗ vẫn thường được lựa chọn. Do nhiễm khuẩn âm đạo kéo dài là một trong những yếu tố nguy cơ gây ra sanh non, ối vỡ non, nên cần cân nhắc điều trị khi đã có triệu chứng.

Nhiễm trùng ối

Nhiễm trùng ối (nhiễm khuẩn ối) là tình trạng nhiễm khuẩn của màng ối và dịch ối bao quanh và bảo vệ thai nhi gây nên bởi các vi khuẩn phổ biến như Ecoli và liên cầu khuẩn nhóm B gây viêm nhiễm âm đạo, vi khuẩn này xâm nhập chủ yếu qua đường âm đạo. Nhiễm trùng ối là nguyên nhân chính gây vỡ ối non trước 37 tuần của thai kỳ và sinh non.

Kháng sinh được khuyến cáo                           

Ampicillin + Gentamicin: 2 g mỗi 6 giờ (tĩnh mạch) liều tải: 2mg/kg sau đó 1,5mg/kg mỗi  8 giờ (tĩnh mạch) hoặc 5mg/kg mỗi 24 giờ (tĩnh mạch)

Kháng sinh được khuyến cáo (dị ứng nhẹ với nhóm Penicillin)

Cefazolin + Gentamicin: 2 g mỗi 8 giờ (tĩnh mạch) liều tải: 2mg/kg, sau đó 1,5mg/kg mỗi  8 giờ (tĩnh mạch) hoặc 5mg/kg mỗi 24 giờ (tĩnh mạch)

Kháng sinh được khuyến cáo (dị ứng nặng với nhóm Penicillin)           

Clindamycin + Gentamicin: 900 mg mỗi 8 giờ (tĩnh mạch) liều tải: 2mg/kg, sau đó 1,5mg/kg mỗi  8 giờ (tĩnh mạch)hoặc 5mg/kg mỗi 24 giờ (tĩnh mạch)

Hoặc

Vancomycin + Gentamicin: 1 g mỗi 12 giờ (tĩnh mạch) liều tải: 2mg/kg, sau đó 1,5mg/kg mỗi  8 giờ (tĩnh mạch) hoặc 5mg/kg mỗi 24 giờ (tĩnh mạch)

Sau mổ lấy thai: chỉ định thêm 1 liều trong liệu trình được lựa chọn. Thêm ít nhất 1 liều Clindamycin 900mg (tĩnh mạch) hoặc Metronidazol 500mg (tĩnh mạch).

Sau sinh ngả âm đạo: Không yêu cầu liều bổ sung; nếu có chỉ định, không sử dụng Clindamycin.

Kháng sinh thay thế

Ampicillin-sulbactam: 3g mỗi 6 giờ (tĩnh mạch)

Hoặc

Piperacillin-tazobactam: 3,375g mỗi 6 giờ, hoặc 4,5 g mỗi 8 giờ (tĩnh mạch)

Hoặc

Cefotetan: 2 g mỗi 12 giờ (tĩnh mạch)

Hoặc

Cefoxitin: 2 g mỗi 8 giờ (tĩnh mạch)

Hoặc

Ertapenem: 1 g mỗi 24 giờ (tĩnh mạch)

Sau mổ lấy thai: chỉ định thêm 1 liều trong liệu trình lựa chọn. Không yêu cầu bổ sung Clindamycin.

Sau sinh ngả âm đạo: Không yêu cầu liều bổ sung; nếu có chỉ định, không sử dụng Clindamycin.

Xem thêm tại NhathuocLP: https://nhathuoclp.com/thuoc-augmentin/

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here